• Thứ 3, 02/03/2021
  • (GMT+7)

Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và đánh giá tính chất xâm lấn, di căn của ung thư dạ dày trên cắt lớp vi tính đa dãy

Imaging characteristics and the invasion, abdominal metastases of gastric cancer with MDCT

SUMMARY

Purposes: Describe imaging characteristics and assess value of MDCT in evaluating the invasion, abdominal metastase of gastric adenocarcinoma based on the 7 th AJCC guidelines.

Materials and methods: From 4/2014 to 3/2015, there are 32 consecutive patients with gastric adenocarcinoma were undergone 64-slide-CT. All of them were undergone operation with pathology after surgery.

Results: The average age is 63 years old, and male/ female=2/1. In 37.2% of cases gastric carcinoma is located on antrum. About macroscopic type, the forth type (linitis plastica) rates are highest 68.8%. The thickness of gastric cancer is pricipal 15-19 mm, all of cases heterogeneous enhancement. There are 17 cases invasion adjacent organs, in which tranverse colon is 8 cases and pancreas is 7 cases. Evaluating the value of diagnosis peritoneal metastase between MDCT and surgical resection is appropriated with medial level Kappa = 0.53, the sensitivity is 75%, the specificity is 89.3%. The overall accuracy of T staging is 62.5% (T1 66.7%, T2-T3 69.2%, T4a 44.4%, and T4b 71.4%). Diagnosis lymph nodes metastasis based on the diameter has got the low valuation with p>0.05, based on the short axis diameter is < 8mm and ≥8mm has got p <0.05. About the shape of lymph nodes, based on irregular shape, peripheral enhancement and round shape to evaluate metastasis with p <0.05.

Conclusion: MDCT with multi-planar reformatted images has increased the accuracy of T and N staging, evaluated the invasion, abdominal metastase of gastric cancer on MDCT.

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh và khảo sát giá trị của cắt lớp vi tính đa dãy (MDCT) trong đánh giá tính chất xâm lấn, di căn ổ bụng của ung thư biểu mô tuyến dạ dày dựa vào 7th AJCC.

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang ở 32 trường hợp ung thư biểu mô tuyến dạ dày từ tháng 04/2014 đến tháng 03/2015 được chụp cắt lớp vi tính 64 lát cắt, được phẫu thuật và có kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật.

Kết quả: Tuổi trung bình là 63 tuổi, nam gấp đôi nữ. Vị trí ung thư dạ dày chủ yếu ở hang vị (37.2%). Về đại thể, thể loét sùi chiếm tỷ lệ cao nhất (68.8%). Độ dày thành dạ dày của tổn thương ung thư nằm chủ yếu trong khoảng 15-19 mm, tất cả đều có tính chất ngấm thuốc không đồng nhất. Có 17 trường hợp xâm lấn cơ quan lân cận, trong đó đại tràng ngang là 8 trường hợp và tụy là 7 trường hợp. Đối chiếu chẩn đoán di căn phúc mạc trên CLVT và phẫu thuật có sự phù hợp ở mức độ trung bình với Kappa=0.53, Se=75%, Sp=89.3%. Khả năng chẩn đoán đúng chung cho các giai đoạn là 62.5% (T1 66.7%, T2-T3 69.2%, T4a 44.4% và T4b 71.4%). Chẩn đoán hạch di căn dựa vào kích thước hạch có giá trị chẩn đoán mức độ thấp với p>0.05, dựa vào đường kính trục ngắn của hạch <8 mm và ≥8mm để chẩn đoán hạch di căn có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Về hình dạng, dựa hình ảnh hạch có hình tua gai, bắt quang viền và hình tròn để đánh giá hạch di căn có ý nghĩa thống kê với p<0.05.

Kết luận: MDCT với hình ảnh tái tạo đa mặt phẳng có vai trò rất quan trọng và tăng độ chính xác trong đánh giá giai đoạn T và N, tính chất xâm lấn và hạch di căn trước mổ ở bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến dạ dày, giúp các nhà phẫu thuật lựa chọn phương pháp điều trị và tiên lượng bệnh trước khi phẫu thuật.

Tác giả: Trần Thị Me Tâm*, Lê Trọng Khoan*, Dương Phước Hùng*, Nguyễn Văn Thành**

Địa chỉ: Bộ môn Chẩn đoán hình ảnh, Trường Đại học Y Dược Huế **Bệnh viện Trung Ương Huế

Theo tạp chí điện quang Việt Nam số 23 – 03/2016

(0)

Đăng nhập | Đăng ký

Bình luận

Đang tải dữ liệu loading

Đơn vị hợp tác