• Thứ 6, 29/05/2020
  • (GMT+7)
Đặc điểm hình ảnh động mạch vành sau đặt stent trên chụp cắt lớp vi tính 64 dãy

Đặc điểm hình ảnh động mạch vành sau đặt stent trên chụp cắt lớp vi tính 64 dãy

05/23/2020 11:19:07 | 0 binh luận

Imaging characteristis of coronary artery after stent implantation in 64 slice computed tomography

SUMMARY

Objective: Describe imaging characteristis of coronary artery after stent implantation in 64 slice computed tomography.

Method: This is a prospective, cross section study applied on 85 patients who satisfied study selective requirement, from 06/2012 to 07/2013 in Hữu Nghị Hospital.

Result: The most common age group is above 60 years old (90.6%); 48.2% patients have one coronary artery impairment, only 11.8% patients have three coronary arteries impairment; median diameter of stent is 3.02±0.5 mm, median length is 28.9±10.2mm; the percentage of LAD is 53.8%, RCA is 33.3%, LMA is 3.8%. There are 16 case have restenosis, in-stent lesions in 68.8% (11/16), pre-stent extending lesion in 31.2% (5/16).

Conclusion: 64 slide computed tomography is non-invasive diagnosis method which have advantage in evaluate coronary artery after stent impantation: location of stent, lesions characteristic, this method also have high sensitivity and speciality in diagnoses restenosis compare to angiography.

Keywords: 64 slide computed tomography, coronary artery.

 Nghiên cứu đặc điểm tổn thương trên xạ hình SPECT tưới máu cơ tim ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim

Nghiên cứu đặc điểm tổn thương trên xạ hình SPECT tưới máu cơ tim ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim

04/02/2020 22:32:58 | 0 binh luận

Characteristics of myocardial perfusion on SPECT at the post - infarct affection

SUMMARY:

Aims: the purpose of our study was to evaluate characteristics of myocardial perfusion defects in Tc99msestamibi gated SPECT myocardial perfusion imaging (MPI).

Subjects and methods: 119 post-myocardial infarction (MI) patients were underwent gated SPECT in Nuclear Medicine Department, 108 Central Military Hosspital from March 2007 to May 2010.

Results: in gated SPECT MPI, reversible, mixed and fixed perfusion defects were detected in 63.9%, 18.5% and 17.6%, respectively. In patient group with ESV ≥ 70 ml, SSS and SRS were significantly higher in group with ESV < 70 ml (18.63 ± 5.02 and 15.58 ± 4.99 vs 14.49 ± 4.83 and 11.15 ± 4.63 (p<0,001). There were significant correlations between SRS and SSS with WMS (r = 0.68, p<0.001 and r = 0.61, p<0.001). In patient group with EF ≤ 40%, SSS and SRS were significantly higher in patients with ESV>40% (19.83 ± 4.36 and 17.07 ± 4.58 vs 15.50 ± 5.2 và 12.13 ± 4.85; p<0.001). There were correlation between SRS and SSS with EF (r = - 0.47, p < 0.001) và SSS (r = -0.44, p<0.001).

Conclusions: In post-MI patients, fixed, reversible and mixed defects are frequently detected in SPECT MPI. The extent and severity of perfusion defects are significantly correlated with wall motion, left ventricular volume and ejection fraction evaluated by gated SPECT MPI.

Kết quả ban đầu can thiệp nội mạch trong tái thông hẹp tắc mạn tính động mạch chậu

Kết quả ban đầu can thiệp nội mạch trong tái thông hẹp tắc mạn tính động mạch chậu

04/02/2020 21:28:25 | 0 binh luận

The short-term primary patency of endovascular intervention in recanalrization of chronic iliac arterial occluded diseases

SUMMARY:

Purpose: to evaluate the short-term primary patency of endovascular intervention in recanalrization of chronic iliac arterial occluded diseases.

Method and materials: prospective study, group of 21 patients with diagnosis of chronic occlusion of iliac arteries in Bach Mai hospital from 9/2011 to 6/2012. The patients were indicated to do revascularization by endovascular intervention.

Result: 21 patients with 28 iliac arteries which were treated by endovascular intervention including percutaneous angioplasty alone and Stenting. Arterial access were performed at common femoral arteries bilateral (retrograde) in 100%, including one failed case that required second intervention by brachial arterial access. No complication relates arterial access. There are 89,3% procedures of stenting with angioplasty post-Stenting and 100% completed deployment of stents. No complication of angioplasty and stent deployment such as arterial rupture or perforation. The success rate of recanalrization is 96% with 96% successful rate in the first approach to cross the over the occlusion. No required 2nd reintervention in duration of follow up from 1 to 6 months, 100% of case with improved intermittent claudication and ABI.

Conclusion: the initial results confirm that the endovascular intervention is a safe, effective method in the goal of recanalrization of chronic occluded iliac arteries.

Điều trị phình động mạch chủ ngực bằng stent phủ tại bệnh viện trường đại học y Hà Nội: nhân ba trường hợp

Điều trị phình động mạch chủ ngực bằng stent phủ tại bệnh viện trường đại học y Hà Nội: nhân ba trường hợp

04/02/2020 20:47:46 | 0 binh luận

Thoracic endovascular aortic repair (TE VAR) for the descending thoracic aortic aneurysm at the HaNoi Medical University Hospital:report three cases

SUMMARY:

Thoracic aortic aneurysm is a life threatening condition that needs to be treated urgently. Thoracic endovascular aortic repair (TEVAR) for the descending thoracic aortic aneurysm was first reported by Dake et al in 1994 [4]. The advent of TEVAR was clinically relevant because descending thoracic disease repair had long been associated with operative mortality rates. The favorable results of TEVAR with reduction of operative mortality have led it to be used worldwide. Up to now, TEVAR has been initially used in Viet Nam. We report three cases with descending thoracic aorta aneurysms that were successfully treated by endovascular stent graft in HaNoi medical university hospital.

Keywords: Thoracic aneurysm, stent graft, TEVAR.

Bước đầu đánh giá vai trò của cộng hưởng từ tim trong chẩn đoán tứ chứng Fallot

Bước đầu đánh giá vai trò của cộng hưởng từ tim trong chẩn đoán tứ chứng Fallot

04/02/2020 14:07:17 | 0 binh luận

Initial evaluation of cardiac magnetic resonance in for diagnosis of Fallot tetralogy

SUMMARY:

Purposes: To apply cardiac magnetic resonance (CMR) for diagnosis preoperative Tetralogy of Fallot patients and to compare the findings on echocardiography with CMR.

Methods and materials: 32 patients were included in a prospective study during the interval from June 2008 to August 2009 at Bach Mai hospital. Both echocardiography and CMR had been perrformed to evaluate the variables: Ejection Fraction (EF), the right ventricular outflow tract, main pulmonary artery (MPA), left and right pulmonary artery (LPA & RPA), major aortopulmonary collateral arteries (MAPCAs)… The correlation between the findings on CMR and echocardiography was compared by using Pearson statistics.

Results: 32 patients (14 males) with average age was 19.94 ± 8.20 (range: 8 -53) y. o. 100% success CMR with average time: 80.93 ± 50.41 minutes. There was a close correlation between the findings on CMR and on echocardiography with Kappa statistics r = 0.63-0.70 (p < 0.05). CMR detect more MAPCAs and additional anomalies than echocardiography.

Conclusions: The results of our study indicate the usefulness of CMR for evaluation pre-operative patients with Tetralogy of Fallot. CMR has more advantages than echocardiography for detection MAPCAs and additional anomalies

Key words: Tetralogy of Fallot; Cardiac magnetic resonance imaging -CMR; Echocardiography

Bóc tách động mạch mạc treo tràng trên đơn độc chẩn đoán và điều trị

Bóc tách động mạch mạc treo tràng trên đơn độc chẩn đoán và điều trị

04/01/2020 14:15:33 | 0 binh luận

Bóc tách động mạch mạc treo tràng trên đơn độc không kèm theo tổn thương động mạch chủ bụng là bệnh hiếm gặp, tính đến năm 2005 có 56 trường hợp được báo cáo trong y văn [1]. Chẩn đoán dựa trên siêu âm Doppler và chụp cắt lớp vi tính đa dãy. Nguyên nhân gây ra chưa khẳng định rõ ràng mặc dù có nhiều yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh, hiện chưa có thống nhất về cách phân loại, theo dõi và điều trị. Triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất ở các bệnh nhân là đau bụng cấp vùng thượng vị [12]. Chúng tôi trình bày hai trường hợp bệnh nhân đau bụng cấp được chẩn đoán bóc tách động mạch mạc treo tràng trên đơn độc và theo dõi điều trị tại Bệnh viện Việt Đức.
Điều trị dị dạng động tĩnh mạch thận bẩm sinh bằng can thiệp nội mạch

Điều trị dị dạng động tĩnh mạch thận bẩm sinh bằng can thiệp nội mạch

04/01/2020 11:38:23 | 0 binh luận

Dị dạng động tĩnh mạch (AVM) thận là sự thông thương bất thường giữa động mạch và tĩnh mạch mà không qua giường mao mạch [1][2][3]. Sự kết thông thương bất thường này có thể là một hoặc nhiều động mạch với một hoặc nhiều tĩnh mạch dẫn lưu. AVM thận là tổn thương hiếm gặp chiếm 0.04%, tỷ lệ này có xu hướng tăng lên nhờ sự phát triển của các phương pháp chẩn đoán hình ảnh gồm siêu âm, chụp cắt lớp vi tính đa dãy, cộng hưởng từ và chụp mạch, trong đó chụp mạch được coi là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán dị dạng động tĩnh mạch thận [1][2][4]. Điều trị AVM thận có hai phương pháp phẫu thuật hoặc nút mạch [1][5] [6]. Phẫu thuật là phương pháp điều can thiệp nặng nề có thể phải cắt thận bán phần hay toàn bộ [1][7][8] [5]. Nút mạch là phương pháp điều trị ít xâm lấn, ít biến chứng và bảo tồn tối đa nhu mô thận lành [5][9] ngày càng được áp dụng rộng rãi. Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Điều trị dị dạng động tĩnh mạch thận bẩm sinh bằng can thiệp nội mạch” với mục đích đánh giá an toàn và hiệu quả của phương pháp này.
Hệ thống xếp loại C.E.A.P cho các rối loạn tĩnh mạch mạn tính và vai trò của siêu âm doppler

Hệ thống xếp loại C.E.A.P cho các rối loạn tĩnh mạch mạn tính và vai trò của siêu âm doppler

04/01/2020 10:00:07 | 0 binh luận

Huyết khối tĩnh mạch và suy giãn tĩnh mạch là hai bệnh cảnh chính của hệ tĩnh mạch, chúng có thể gây ra những hậu quả dai dẳng nên được gọi chung là rối loạn tĩnh mạch mạn tính. Cả hai thực thể bệnh lý này tác động lên một số lượng không nhỏ người dân; các nghiên cứu dịch tễ học ở Mỹ cho thấy hàng năm tại Mỹ có khoảng 80 đến 120 ca mới mắc trên 100000 dân. Một thống kê khác cho thấy ở Mỹ, có khoảng 10% đến 35% dân số mắc bệnh suy tĩnh mạch mạn tính ở các mức độ khác nhau, trong đó 1,5% dân số ở mức độ loét do suy tĩnh mạch mạn tính. Chi phí hàng năm ở Mỹ cho chăm sóc y tế đối với suy tĩnh mạch mạn tính vào khoảng 1 tỷ đô la [1,2,3]. Ở Việt Nam, các rối loạn tĩnh mạch mạn tính ngày càng gia tăng, đem lại một gánh nặng không nhỏ cho ngành y tế nước nhà, làm giảm chất lượng cuộc sống của chính bệnh nhân cũng như ngân sách của họ. Việc chẩn đoán và điều trị cũng như theo dõi trong quá trình bệnh lý đòi hỏi bác sĩ ngành mạch máu có bộ hướng dẫn quy chuẩn về phân loại, đánh giá dựa trên các cứ liệu có thể lượng giá được và mang tính thống nhất giữa các bác sĩ đa ngành đang có trách nhiệm chăm sóc cho bệnh nhân bị rối loạn tĩnh mạch mạn tính. Chính vì lẽ đó mà năm 1994, một Ủy ban quốc tế được đề cử bởi Diễn đàn Tĩnh mạch Mỹ, gồm các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tĩnh mạch của thế giới đã nhóm họp để đi đến đồng thuận trong việc xây dựng nên Hệ thống xếp loại và phân mức độ cho các rối loại tĩnh mạch mạn tính. Hệ thống này dựa trên cứ liệu là: Các biểu hiện lâm sàng (Clinical manifestation), các yếu tố bệnh nguyên (Etiology factors), các phân bố giải phẫu (Anatomy distribution) và các biến đổi sinh lý bệnh (Pathophysiologic findings). Hệ thống có tên là CEAP do lấy các chữ cái đầu tiên trong tên của từ 4 cơ sở dữ liệu vừa nêu. Sau đó, vào năm 2004, CEAP lại được bổ sung cho hoàn chỉnh hơn. Hệ thống xếp loại CEAP được kỳ vọng là: 1/ Văn bảng hướng dẫn chuẩn hóa trong cách báo cáo, thông tin về rối loạn tĩnh mạch mạn tính; 2/ Do dựa trên thông tin chẩn đoán chính xác nên bảng xếp loại CEAP được trông mong như hướng dẫn có hệ thống trong thăm khám lâm sàng hàng ngày cho đối tượng có rối loạn tĩnh mạch mạn tính; 3/ Là cơ sở cho việc quyết định thái độ điều trị; 4/ CEAP cần được phổ biến và chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới [4,5,6]. Như thế, hệ thống xếp loại CEAP thuần túy là bảng mô tả về biểu hiện lâm sàng, yếu tố bệnh nguyên, phân bố giải phẫu và đặc điểm sinh lý bệnh
Lịch học Online tháng 5

VIDEO

H2 Quảng cáo baner 4

Đơn vị hợp tác