• Thứ 6, 29/05/2020
  • (GMT+7)
Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và giá trị của cắt lớp vi tính 64 dãy trong chẩn đoán u tuyến thượng thận

Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và giá trị của cắt lớp vi tính 64 dãy trong chẩn đoán u tuyến thượng thận

03/31/2020 21:59:44 | 0 binh luận

Study of imaging characteristic and value of 64-slice CT in diagnosis of Adrenal tumor

SUMMARY:

Objective: This study aims to describe the characteristic and value of diagnostic adrenal tumor on 64-slice CT scanner

Materials and Methods: Prospective and cross-sectional descriptive study of 39 patients were diagnosed adrenal tumor on 64-slice CT scanner. The receiver operating characteristic (ROC) curves for the value of size, the attenuation values at the unenhanced CT and the relative percentage washout (RPW) and absolute percentage washout (APW) values for the differential diagnosis of adenoma from nonadenoma.

Results: Adrenal tumor was common as adenoma (16/38) with the feature of often homogeneous, clearly limited and small size (2.5 cm), and about 11.5 HU on precontrast attenuation. Pheocromocytoma was often heterogeneous, large size of 4.76cm and in conjunction with high levels of dynamic enhancement (108.3 Hu and 111.7 Hu). Tumor adrenal malignant was large size of 8.83cm, often unknown limits, infiltrates surrounding and invading IVC (2/3 cases). The area under the ROC curve and cut off with size were 0.896 and 3.29 cm, the attenuation values at the unenhanced CT were 0.984 and 24 Hu, APW were 0.937 and 57.6% and RPW were 0.994 and 43.7% (p <0.001). The sensitivity, specificity and accuracy at the threshold size of 3.29 cm were 88.2%, 90.9% and 89.7%, respectively; at threshold 24 Hu were 94.1%, 95% and 94.6%; at threshold APW = 57.6% and RPW = 43.7% were 94.1%, 85%, 89.2% and 94.1%, 100%, 97.3%, respectively.

Conclusion: 64-slice CT scanner is effective methods to characterize and diagnose adrenal tumor. The relative percentage washout (RPW), absolute percentage washout (APW), the attenuation values at the unenhanced CT and the size criteria appear optimal for discriminating an adrenal adenoma from a nonadenoma.

Keywords: Adrenal Gland Neoplasms, Adrenal Glands, radiography.

Bước đầu đánh giá kết quả điều trị lạc nội mạc tử cung trong cơ tử cung bằng phương pháp nút động mạch tử cung

Bước đầu đánh giá kết quả điều trị lạc nội mạc tử cung trong cơ tử cung bằng phương pháp nút động mạch tử cung

04/02/2020 22:42:04 | 0 binh luận

Preliminary evaluation of uterine artery embolization for treatment of adenomyosis

SUMMARY:

The uterine arterial embolization was carried out for 17 patients who suffered from adenomyosis, in which of them, 10 cases were followed-up by MRI at 1 and 3 months after embolization. The results showed that: free from abdominal pain were about 87.5 and 81.25% respectively and free from menorrhagia were 66.7% and 50% respectively. The thickness of transitional zone was reduced from 33 to 22.1mm. Average reducing of uterine volume was from 274.4 to 215.9cm3, corresponding to 19.5% of decreased volume. No contrast enhancement on MRI were found at 7 patients (7/10). 100% patients felt abdominal pain at the end of the procedure, especially 94,1% strongly pain. Hospitalization time was only 1-2 days in 94,1% of patients.

Lạc nội mạc tử cung vào cơ thành bụng sau mổ lấy thai và u tiểu khung được phát hiện tại trung tâm chẩn đoán hình ảnh AMTIC

Lạc nội mạc tử cung vào cơ thành bụng sau mổ lấy thai và u tiểu khung được phát hiện tại trung tâm chẩn đoán hình ảnh AMTIC

04/02/2020 14:33:01 | 0 binh luận

7 BN nữ độ tuổi từ 26-41 đã có mổ lấy thai trước đó, 1 sau mổ u nang buồng trứng. BN đến khám vì đau ở dưới vết mổ thành bụng có liên quan tới chu kì kinh nguyệt. Khám lâm sàng thấy khối dưới sẹo mổ, một vài BN có thể tự sờ thấy. Siêu âm thấy khối giảm âm không đồng nhất trong thành bụng bên trái dưới sẹo mổ, chụp cắt lớp vi tính (CLVT) thấy khối giảm tỉ trọng so với cơ, chụp CHT thấy khối tăng tín hiệu trên T1W-T2W-FAT SAT và ngấm thuốc đối quang từ. Chẩn đoán giải phẫu bệnh xác nhận là lạc nội mạc tử cung
Khảo sát kết quả chụp tử cung - vòi tử cung ở các trường hợp vô sinh

Khảo sát kết quả chụp tử cung - vòi tử cung ở các trường hợp vô sinh

03/31/2020 13:17:40 | 0 binh luận

Nếu nguyên nhân vô sinh chủ yếu ở nam giới chỉ liên quan đến chất lượng tinh trùng, thì ở nữ giới rất nhiều nguyên nhân có thể ngăn cản khả năng có thai tự nhiên. Tổn thương vòi tử cung chiếm tỉ lệ khoảng 30- 40% và là nguyên nhân thường gặp thứ hai gây vô sinh nữ sau nguyên nhân rối loạn chức năng phóng noãn. Bất thường vòi tử cung có thể do viêm nhiễm đường sinh dục, tiền căn phẫu thuật vùng chậu, vòi tử cung, bất thường bẩm sinh hay lạc nội mạc tử cung. Hiện nay, việc khảo sát đường sinh dục nữ nói chung và tử cung – vòi tử cung nói riêng ở các trường hợp vô sinh chủ yếu dựa vào các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm phụ khoa qua đường bụng hay đường âm đạo, chụp tử cung - vòi tử cung có thuốc cản quang (HSG), nội soi buồng tử cung và trong một số trường hợp nghi ngờ có thể chỉ định chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, sinh thiết buồng tử cung làm mô bệnh học… [2]. Tiêu chuẩn vàng chẩn đoán hình thái và độ thông vòi tử cung vẫn là nội soi ổ bụng [12, 14]. Với nội soi, đòi hỏi phải gây mê, có tính xâm nhập, tiền ẩn một số nguy cơ về tai biến và không thể xem là một phương pháp sàng lọc [4]. Kể từ năm 1910, khi Rendflesish lần đầu tiên ứng dụng tia X vào kĩ thuật chụp buồng tử cung, chụp phim tử cung - vòi tử cung có bơm thuốc cản quang được xem là một phương pháp được ưu tiên chọn lựa ở nhiều trung tâm để đánh giá độ thông của hai vòi tử cung, đặc biệt ở những trường hợp có những yếu tố nguy cơ cao bệnh lý vòi tử cung [15]. Vòi tử cung được ngấm thuốc cản quang và hiện lên trên phim. Nghiệm pháp Côtte xác định thuốc có thông vào ổ bụng hay không. Đây là một thủ thuật không xâm lấn, không cần gây mê, thu nhiều thông tin giá trị và ít biến chứng [11]. Theo nghiên cứu của Đinh Bích Thủy ở 200 phụ nữ vô sinh tắc vòi tử cung qua chụp tử cung - vòi tử cung và đối chiếu với nội soi ổ bụng xác định được tỉ lệ dương tính giả 10,7%. Tỉ lệ vòi tử cung tắc thật khi chụp phim và sau khi nội soi là 89,3% [12]. Tỉ lệ dương tính giả trong tắc eo và kẽ (28/43) cao hơn chẩn đoán tắc bóng và loa (15/43). Nghiên cứu của Kitilla năm 2007 cũng ghi nhận độ đặc hiệu của phim chụp cản quang đến 89% [6]. Preutthipan, S. đánh giá độ chính xác của HSG so với so buồng tử cung nhằm phát hiện các bất thường trong buồng tử cung ở bệnh nhân vô sinh lấy tiêu chuẩn vàng là nội soi ổ bụng. Trong tổng số 336 bệnh nhân nghiên cứu, soi buồng tử cung phát hiện thêm 4 trường hợp bất thường mà kết quả HSG trước đó bình thường. Hình ảnh chụp HSG có độ nhạy 98.0%, độ đặc hiệu 34.9%, giá trị dự báo dương 69.9%, giá trị dự báo âm 92.0%, độ chính xác 73.2% với tỉ lệ âm tính giả 8.0% [10]. Đề tài này được tiến hành nhằm góp phần đánh giá kết quả chụp tử cung – vòi tử cung ở các trường hợp vô sinh và tìm hiểu một số yếu tố liên quan.
Chẩn đoán niệu quản cắm lạc chổ âm đạo bằng chụp CT hệ niệu có sử dụng thuôc lợi tiểu

Chẩn đoán niệu quản cắm lạc chổ âm đạo bằng chụp CT hệ niệu có sử dụng thuôc lợi tiểu

04/02/2020 22:46:32 | 0 binh luận

Niệu quản (NQ) cắm lạc chỗ là một bất thường bẩm sinh hiếm, tần xuất khoảng 1/2000 - 4000 trẻ. NQ cắn lạc chỗ có thể trong bàng quang hoặc ngoài bàng quang. Ở trẻ nam, NQ lạc chỗ ngoài bàng quang cắm vào niệu đạo, túi tinh, trực tràng. Ở trẻ nữ, NQ có thể cắm vào niệu đạo, âm đạo, tử cung hoặc trực tràng. NQ cắm lạc chỗ ngoài bàng quang thường gặp trong trường hợp bất thường bẩm sinh đôi hệ đài bể thận NQ (thận đôi) với NQ cực trên lạc chỗ ngoài bàng quang. NQ cắm lạc chỗ ngoài bàng quang trong trường hợp thận đơn hiếm hơn, xảy ra trong trường hợp thận loạn sản và có thể lạc chỗ. NQ cắm lạc chỗ vào âm đạo gây triệu chứng rỉ nước tiểu liên tục ở trẻ nữ và có thể gây nhiễm trùng tiểu tái phát hoặc viêm nhiễm tái phát vùng tầng sinh môn. Chẩn đoán thường khó và trễ
Nhiễm nấm candida đường niệu trên bệnh nhân tiểu đường: nhân một trường hợp

Nhiễm nấm candida đường niệu trên bệnh nhân tiểu đường: nhân một trường hợp

04/02/2020 21:35:42 | 0 binh luận

Nhiễm nấm đường tiết niệu là bệnh lý ít gặp. Cũng như những cơ quan khác, nhiễm nấm đường tiết niệu thường xuất hiện trên những BN có yếu tố nguy cơ cao. Trong trường hợp này, chúng tôi báo cáo một trường hợp nhiễm nấm Candida niệu trên BN đái tháo đường.
Chảy máu sau đẻ do tổn thương động mạch thẹn trong nguyên nhân hiếm gặp: báo cáo nhân 1 trường hợp hiếm gặp

Chảy máu sau đẻ do tổn thương động mạch thẹn trong nguyên nhân hiếm gặp: báo cáo nhân 1 trường hợp hiếm gặp

04/01/2020 14:18:39 | 0 binh luận

Chảy máu sau đẻ (CMSĐ) là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các bà mẹ trên thế giới và được định nghĩa là chảy máu trong vòng 6 tuần sau đẻ. CMSĐ có thể xuất hiện ngay lập tức hay sau đẻ vài giờ hoặc vài ngày, CMSĐ nguyên phát là chảy máu trong 24 giờ đầu sau đẻ. CMSĐ thứ phát khi chảy máu quá nhiều từ âm đạo, mất máu ≥ 500ml, hoặc xuất hiện sau 24h (giờ) đầu tiên cho đến 6 tuần sau đẻ. Điều trị nội khoa bằng các thuốc co hồi tử cung và kháng sinh là biện pháp đầu tiên để điều trị CMSĐ. Khi điều trị nội khoa thất bại, sử dụng phương pháp nút mạch để cầm máu là biện pháp an toàn và hiệu quả thay thế được phương pháp cắt tử cung và thắt động mạch tử cung [1][2][3][6][7].
Khảo sát sự tương quan giữa sa trực tràng dạng túi với các bệnh lý sàn chậu thường gặp khác

Khảo sát sự tương quan giữa sa trực tràng dạng túi với các bệnh lý sàn chậu thường gặp khác

03/31/2020 19:27:58 | 0 binh luận

Các bệnh lý vùng sàn chậu như sa trực tràng dạng túi, sa các tạng chậu khá phổ biến ở nữ tuổi trung niên đã từng sinh con, chiếm tỉ lệ khoảng 50% và hơn 10% trong số này phải điều trị bằng phẫu thuật. Bệnh biểu hiện với các triệu chứng rối loạn chức năng sàn chậu như đau vùng chậu, cảm giác nặng vùng chậu, giao hợp đau, rối loạn đi tiểu, đại tiện khó, không hết phân,… và khoảng 16% có sa tạng chậu ra bên ngoài (1,2). Bệnh thường liên quan đến nhiều khoang chậu và dễ tái phát do không đánh giá đầy đủ các tổn thương phối hợp trước khi điều trị và do hiểu không đầy đủ sinh lý bệnh học. Nếu chẩn đoán bệnh chỉ dựa vào khám lâm sàng, có đến gần 50% trường hợp bỏ sót sa các tạng chậu (3,4). Trước đây, X quang động học tống phân đóng vai trò chính trong chẩn đoán bệnh lý sàn chậu. Bệnh nhân bị ảnh hưởng tia X và phương pháp này còn mang tính xâm lấn khi muốn khảo sát các khoang chậu ở phía trước (5). Đến những năm 1990, với sự phát triển của cộng hưởng từ, kỹ thuật khảo sát động sàn chậu trở thành phương tiện tốt có giá trị thay thế cho X quang trong chẩn đoán các bệnh lý vùng sàn chậu. Nghiên cứu này nhằm khảo sát mối tương quan giữa STTDT và các bệnh lý khác của sàn chậu trên bệnh nhân có biểu hiện rối loạn chức năng sàn chậu bằng kỹ thuật chụp cộng hưởng từ động.
Lịch học Online tháng 5

VIDEO

H2 Quảng cáo baner 4

Đơn vị hợp tác