Động mạch vành độc nhất: Phân loại và ý nghĩa lâm sàng

Banner right

Banner right

shadow

Động mạch vành độc nhất: Phân loại và ý nghĩa lâm sàng

05/01/2017 11:22 AM - Báo cáo khoa học về Tim mạch

Tran Tien Manh,Tran Thuy Hong, Dao Kim Phuong

TÓM TẮT

Mục đích: Phát hiện, phân loại động mạch vành độc nhất trên chụp MSCT tim. Tìm hiểu triệu chứng lâm sàng và ảnh hưởng của động mạch vành độc nhất đối với phẫu thuật sửa chữa toàn bộ bệnh lý tim bẩm sinh đi kèm.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu trên 9.868 bệnh nhân chụp MSCT tim tại bệnh viện Tim Hà Nội, thời gian từ tháng 02 năm 2015 đến tháng 09 năm 2017.

Kết quả: Trong tổng số 9.868 bệnh nhân, có 43 bệnh nhân động mạch vành độc nhất chiếm tỉ lệ 0,44%. 11/43 bệnh nhân (25,6%) động mạch vành độc nhất là tổn thương đơn độc. 32/43 bệnh nhân (74,4%) động mạch vành độc nhất phối hợp với các bệnh lý tim bẩm sinh khác bao gồm: 7 bệnh nhân Fallot 4, 3 bệnh nhân thân chung động mạch, 2 bệnh nhân teo phổi, 1 bệnh nhân thất phải hai đường ra, 1 bệnh nhân bất tương hợp nhĩ – thất, thất – đại động mạch và 18 bệnh nhân tim bẩm sinh rất phức tạp khác. Trong 43 bệnh nhân động mạch vành độc nhất: 25/43 bệnh nhân (58%) thuộc type L, 16/43 bệnh nhân (37%) thuộc type R và 2/43 bệnh nhân (5%) không thuộc hệ thống phân loại hiện hành đó là 2 bênh nhân động mạch vành độc nhất xuất phát cao từ thân động mạch cánh tay đầu. Type L I chiếm 5%, type L II – A 21%, type L II – B 18%, type L II – P 14%, type R II – A 18%, type R II – B 12%, type R II – P 5% và type R III chiếm 2%. 11/43 trường hợp có đau thắt ngực không điển hình. 9/43 trường hợp gây khó khăn khi phẫu thuật sửa toàn bộ bệnh tim bẩm sinh đi kèm.

Kết luận: Động mạch vành độc nhất là một bất thường bẩm sinh rất hiếm gặp, thường không có triệu chứng nhưng cũng có thể nên đau ngực, khó thở, ngất, nhồi máu cơ tim thậm chí đột tử. Các type động mạch vành độc nhất sẽ gây khó khăn khi phẫu thuật sửa chữa toàn bộ bệnh lý tim bẩm sinh đi kèm.

Bài viết khác