ĐỐI CHIẾU HÌNH ẢNH CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG LƯNG – THẮT LƯNG TRÊN X QUANG THƯỜNG QUY VỚI CẮT LỚP VI TÍNH

Banner right

Banner right

shadow

ĐỐI CHIẾU HÌNH ẢNH CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG LƯNG – THẮT LƯNG TRÊN X QUANG THƯỜNG QUY VỚI CẮT LỚP VI TÍNH

11/03/2016 08:43 AM - - Bài giảng về cơ xương khớp

ĐỐI CHIẾU HÌNH ẢNH CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG LƯNG – THẮT LƯNG TRÊN X QUANG THƯỜNG QUY VỚI CẮT LỚP VI TÍNH 

                                                                       Nguyễn Thị Hảo, Lê Đình Vấn

Tóm tắt: Qua đối chiếu hình ảnh 110 trường hợp chấn thương cột sống lưng – thắt lưng trên X quang thường quy với Cắt lớp vi tính tại bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 4/2009 – 5/2010 chúng tôi thấy: những hình ảnh tổn thương xương khớp, thay đổi trục và trượt trên phim X quang cũng phù hợp với hình ảnh tổn thương trên CLVT. Tuy nhiên, hình ảnh CLVT rõ ràng và chính xác hơn. Như vậy X quang là một phương tiện giúp đánh giá tổn thương và định hướng tổn thương trước khi chỉ định chụp CLVT.

Abstrac

COMPARE THE IMAGES OF THORACIC AND LUMBAR SPINE TRAUMA ON PLAIN RADIOLOGRAPHS WITH COMPUTOR TOMOGRAPHY

Compare the images of Thoracic and lumbar spine trauma on plain radiolographs with computer tomography in Hue central hospital since 4/2009 – 5/2010 show that: The images of osteoarthritis injuries, change axis, slipped vertebral on plain radiographs are suitable with computer tomographies. However, the injuries imaging on computer tomographies are more clealy and accurate. Consequently, plain radiolographs is evaluate and orient injuries befor use computer tomographies.

Mở đầu: Chấn thương cột sống hay bị gãy ở những đoạn bản lề, nơi tiếp nối giữa phần tương đối cố định là đoạn ngực với phần di động là đoạn thắt lưng và đoạn cổ. Tùy theo từng nghiên cứu, tỷ lệ chấn thương cột sống lưng – thắt lưng khoảng 30 – 60% trong chấn thương cột sống nói chung và tỷ lệ bị liệt khoảng 26%.

Ngoài thăm khám lâm sàng, các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh có vai trò hỗ trợ quan trọng cho chẩn đoán, điều trị và tiên lượng. Với điều kiện cụ thể hiện nay, phương pháp chụp cắt lớp vi tính tỏ ra có nhiều ưu thế. Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính cột sống cho phép khảo sát các tổn thương về xương cũng như về phần mềm, đặc biệt là các tổn thương xương kín đáo mà X quang chuẩn không thấy được.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

 Gồm 110 bệnh nhân bị chấn thương cột sống lưng - thắt lưng vào khám và điều trị tại Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 4/2009 đến tháng 5/2010.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.

2.5.  Tiến hành nghiên cứu.

 Đọc kết quả phim X quang

- Xác định vị trí tổn thương. Đánh giá sự thay đổi trục cột sống qua đoạn gãy. Các tổn thương thân đốt sống, các thành phần của cung sau (cuống sống, mảnh sống, mỏm gai, mỏm ngang, trật khớp và gãy mỏm khớp).

Đọc phim CLVT

+ Trên cửa sổ phần mềm cần đánh giá: Sự thay đổi tỷ trọng của tuỷ sống, khoang ngoài màng cứng, phần mềm cạnh cột sống. Tình trạng đĩa đệm, dây chằng, tổn thương các cơ quan khác.

+ Trên cửa sổ xương cần đánh giá: Hình dáng, bờ viền thân các đốt sống, đánh giá gãy thân sống và cung sau như trên X quang.

+ Đánh giá trên ảnh tái tạo 2 và 3 bình diện

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đối chiếu sự thay đổi trục trên X quang và CLVT

          CLVT

  XQ

Thẳng trục

Gập

Góc đơn thuần

Gập vỡ

Gập xoay

Trượt

Tổng

Thẳng trục

16

2

0

0

0

18 (16,4%)

Gập góc đơn thuần

0

30

8

2

0

40 (36,4%)

Gập vỡ

0

0

35

2

1

38 (34,5%)

Gập xoay

0

0

1

7

0

8(7,3%)

Trượt

0

0

1

0

5

6(5,4%)

Tổng

16

(14,5%)

32

(29,1%)

45

(40,1%)

11

(10,0%)

6

(6,3%)

110

 

 

 Đối chiếu dạng gãy thân đốt sống được phát hiên trên X quang và CLVT

           CLVT

   XQ

Không gãy

Lún đơn thuần

Gãy dọc

Vỡ nhiều mảnh

Gãy trật

Tổng

Không gãy

0

2

2

0

0

4(3,6%)

Lún đơn thuần

0

38

4

22

0

64(51,8%)

Gãy dọc

0

2

1

0

0

3 (2,7%)

Vỡ nhiều mảnh

0

3

0

28

2

33 (30,%)

Gãy trật

1

0

1

0

4

6 (11,9%)

Tổng

1(1,0)

45(40,9%)

8(7,2%)

50(45,5%)

6(5,4%)

110

 

 

Các đặc điểm trên X quang trong loại gãy vỡ nhiều mảnh

Đặc điểm

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Góc cột sống

≥150

41

70,7

<150

17

29,3

Chiều cao thân đốt

≤50%

29

50,0

>50%

29

50,0

Mảnh vỡ trong ống sống

32

55,2

Không

26

44.8

Khoảng gian cuống

Rộng

31

53,4

Không

27

46,6

 

Đối chiếu tổn thương xương cung sau trên X quang và CLVT

    CLVT

XQ

Không gãy

Gãy cuống

Gãy mảnh

Gãy m.gai

Gãy m.ngang

Gãy m.khớp

Tổng (%)

Không gãy

57

7

16

0

1

4

85(50,0)

Gãy cuống

0

35

0

0

0

0

35 (20,6)

Gãy mảnh

0

0

10

0

0

0

10(5,9)

Gãy m.gai

1

0

0

12

0

0

13(7,6)

Gãy m.ngang

0

0

0

0

17

0

17(10,0)

Gãy m.khớp

0

0

0

0

0

10

10(5,9)

Tổng (%)

58(34,1)

42(24,7)

26(15,3)

12(7,1)

18(10,5)

14(8,3)

170

 

 Đối chiếu hẹp ống sống giữa X quang và CLVT

            CLVT

XQ

Không hẹp

Hẹp nhẹ

Hẹp vừa

Hẹp nặng

Tổng

Không hẹp

49

0

7

0

56 (50,9%)

Hẹp nhẹ

0

1

3

4

8 (7,2%)

Hẹp vừa

0

0

12

12

24 (21,8%)

Hẹp nặng

0

0

4

18

22 (20,1%)

Tổng

49 (44,5%)

1 (0,9%)

26 (23,6%)

34 (30,9%)

110

 

BÀN LUN

  • Đối chiếu sự thay đổi trục trên X quang và CLVT: Tỷ lệ gập góc và gập trượt trội hơn trên cả X quang và CLVT so với các loại khác, cụ thể:

+ Gập góc trên X quang chiếm 40 TH (36,4%) có 30 TH phù hợp với chẩn đoán trên CLVT. Gập vỡ trên CLVT chiếm 45TH (40,1%), có 35 TH phù hợp với X quang. Có sự  phù hợp  tốt (K = 0,82) giữa chẩn đoán X quang và CLVT.

Dựa vào sự biến đổi của trục cột sống trên X quang có thể phần nào tiên đoán được tổn thương vững hay mất vững. Tuy nhiên cần thực hiện CLVT để có thể phát hiện tốt hơn những trường hợp CTCS mà X quang có thể bỏ sót.

- Đối chiếu các dng gãy thân đốt sng được phát hiên trên X quang và CLVT

+ Trên X quang thấy 4 TH không gãy thân đốt sống, nhưng trên CLVT không có trường hợp nào không gãy thân đốt sống, 64 TH gãy lún đơn thuần, có 38 TH phù hợp với CLVT.

+ Ngược lại CLVT có 7 TH gãy dọc, trong khi X quang chỉ thấy 1 TH. Có 53 TH gãy phức tạp, trong khi X quang phát hiện 28 TH và có 22 TH chẩn đoán nhầm là gãy lún đơn thuần.

Qua đó cho thấy CLVT có độ nhạy hơn nhiều so với X quang trong việc phát hiện có gãy đốt sống hay không, thấy rõ ràng hơn các đường gãy kín đáo, và phân tích rõ hơn các kiểu gãy phức tạp.

- Đối chiếu tn thương xương cung sau trên X quang và CLVT:  Gãy cuống sống trên X quang là 35 TH, ít hơn so với CLVT là 42 TH. Gãy mảnh sống trên X quang gặp 10 TH, ít hơn so với trên CLVT là 16 TH. Gãy, trật mỏm khớp được phát hiện trên X quang là 10 TH, ít hơn so với trên CLVT là 14 TH.

Cung sau là hệ thống quan trọng ảnh hưởng trực tiếp lên tính mất vững của cột sống khi bị tổn thương, nên việc đánh giá tổn thương cung sau là rất quan trọng. X quang với mức thang xám ít hơn và ở những bệnh nhân CTCS cần sự bất động, không cho phép chụp các tư thế đặc biệt khác để bộc lộ tổn thương trên phim nên sẽ hạn chế việc phát hiện và đánh giá đầy đủ mức độ trầm trọng của tổn thương, trái lại CLVT mổ xẻ ra từng nhát cắt, tái tạo lại trên các mặt phẳng cho phép đánh giá hết mức độ tổn thương

- Các đặc đim trên X quang trong loi gãy v nhiu mnh: Góc cột sống ≤ 150 ở những bệnh nhân gãy vỡ là 70,7 %. chiều cao thân đốt sống ≤ 50%, là 29/58 TH chiếm 50,0%.  Số mảnh vỡ được phát hiện trên X quang so với trên CLVT là 55,2%. khoảng gian cuống sống rộng là 31TH chiếm 53,4 %. mặc dù X quang thường quy là chỉ định đơn giản, rẻ tiền và nhanh chóng trong những trường hợp chấn thương cột sống. Tuy nhiên X quang thường quy không đánh giá được một cách toàn diện các tổn thương. Rất dễ nhầm một tổn thương gãy lún đơn thuần với một tổn thương gãy vỡ phức tạp trên X quang thường quy.

- Đối chiếu hp ng sng gia X quang và CLVT: Trên X quang có 56 TH không hẹp ống sống so với CLVT có 49 TH không có hẹp ống sống.

 Trên X quang tỷ lệ hẹp theo thứ tự giảm dần từ hẹp vừa (21,8%)à hẹp nặng (20,1%)à hẹp nhẹ (7,2 %).  Ngược lại trên CLVT tỷ lệ hẹp giảm dần theo thứ tự hẹp nặng (30,9%) à hẹp vừa (23,6 %) à hẹp nhẹ (0,9 %).

CLVT không những phát hiện ra nhiều trường hợp hẹp ống sống hơn ma còn đánh giá rõ hơn mức độ hẹp.

KT LUN

Qua nghiên cứu trên cho thấy những hình ảnh tổn thương xương khớp, thay đổi trục và trượt trên phim X quang cũng phù hợp với hình ảnh tổn thương trên CLVT. Tuy nhiên hình ảnh CLVT rõ ràng và chính xác hơn. Như vậy X quang có vai trò giúp đánh giá tổn thương và định hướng tổn thương trước khi chỉ định chụp CLVT.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bagley LJ (2006), Imaging of spinal trauma, Radiol Clin N Am, pp. 1 – 12.
  2. Ballock RT, Mackersie R, Abitbol JJ, Cervilla V, Resnick D, Garfin SR (1992), Can burst fracture be predicted from plain radiolographs?, British Editorial Society of Bone and Joint Surgery, 74 – B, pp. 147 – 150.
  3. Daffner RH (2008),  Injury patterns in vertebral trauma, State-of-the-Art Emergency and Trauma Radiology, pp. 45 – 54.
  4. Denis F (1983), The three column spine and its significance in the classification of acute thoracolumbar spinal injuries, Spine, 8, pp. 817 – 831.
  5. Fontijne WP, de Klerk LW, Braakman R, Stijnen T, Tanghe HL, Steenbeek R, van Linge B (1992), CT scan prediction of neurological deficit in thoracolumbar burst fractures, J Bone Joint Surg, 74-B(5), pp. 683 – 685.