ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP TẠO HÌNH ĐỐT SỐNG QUA DA TRONG ĐIỀU TRỊ XẸP ĐỐT SỐNG BỆNH LÍ

Banner right

Banner right

shadow

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP TẠO HÌNH ĐỐT SỐNG QUA DA TRONG ĐIỀU TRỊ XẸP ĐỐT SỐNG BỆNH LÍ

11/03/2016 08:43 AM - - Bài giảng về cơ xương khớp

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP TẠO HÌNH ĐỐT SỐNG QUA DA TRONG ĐIỀU TRỊ XẸP ĐỐT SỐNG BỆNH LÍ

Phạm Mạnh Cường, Phạm Minh Thông.

ABSTRACT. Evaluation the percutaneous vertebroplasty in pathothologic vertebral collapse.

PURPOSE: To determine the efficacy of percutaneous vertebroplasty in treating vertebral body compression fractures in patients with osteoporosis, vertebral heamangioma and vertebral metastasis. MATERIALS AND METHODS: In 25 patients (21 women and 4 men), 31 percutaneous vertebroplasties were performed from August-2002 to January-2008 . Of these, 12 patients with osteoporosis, 10 patients with vertebral heamangioma and 3 patients with vertebral metastasis. Imaging and clinical features were analyzed, including the extent of vertebral collapse, location of the involved vertebra, volume of polymethylmethacrylate injected, vertebroplasty complications, and clinical outcome. RESULTS: The mean volume of the cement injected was 4.6 mL (range, 2–10 mL). Complications observed on radiographs included cement leakage to the adjacent disc (14.5%), epidural space leak (18.5%), intervertebral foramen leak (7.4%)  and periverterbral venous leak  (29.6%). There were no puncture complications. At clinical follow-up (mean duration, 17 months; longest duration, 49 months), pain relief was gained in 100% of 25 patients; in general, good symptomatic relief was gained in 66.7%,  partial 11.1%, and unchanged in 7,4%. Eight patients required surgery after vertebroplasty.CONCLUSION: Percutaneous vertebroplasty for pathologic vertebral body compression fractures is safe and effective.

ĐẶT VẤN ĐỀ.Kĩ thuật tạo hình đốt sống qua da (percutaneous vertebroplasty) được thực hiện bằng cách bơm vào thân đốt sống bị xẹp một loại xi măng hoá học hoặc keo hoá học nhằm giảm đau, làm bền vững thân đốt sống và giảm chảy máu trong mổ u máu đốt sống. THĐSQD được tiến hành lần đầu tiên tại Pháp bởi giáo sư Hervé Deramond vào năm 1985 để điều trị cho một trường hợp xẹp đốt sống do u máu thân đốt sống. Hiện tại kĩ thuật này đang được áp dụng để điều trị cho các trường hợp xẹp đốt sống do loãng xương, u máu thân đốt, di căn đốt sống thể huỷ xương, đa u tuỷ … ở nước ta, khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Bạch Mai là trung tâm đầu tiên áp dụng phương pháp THĐSQD để điều trị một số trường hợp xẹp đốt sống bệnh lí với hiệu quả bước đầu rất khả quan. Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Đánh giá hiệu quả của phương pháp tạo hình đốt sống qua da trong điều trị xẹp đốt sống bệnh lí.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Chúng tôi đã tiến hành tạo hình đốt sống qua da trên tổng số 27 lượt bệnh nhân với 31 đốt sống (14 đốt sống lưng, 13 đốt sống thắt lưng) trong khoảng thời gian từ 01/08/2002 đến 01/1/2008. 22 bệnh nhân được tạo hình tại một đốt sống duy nhất, 2 bệnh nhân được tạo hình tại hai đốt và 1 bệnh nhân tạo hình tại 3 đốt, hai bệnh nhân được tạo hình đốt sống lần thứ 2. Nhóm bệnh nhân THĐSQS bao gồm:

  • 12 bệnh nhân bị xẹp đốt sống do loãng xương độ 1, hoặc 2 không đáp ứng với điều trị nội khoa.
  • 12 lượt bệnh nhân bị U máu thân đốt sống thể tiến triển có hoặc không có chỉ định phẫu thuật sau THĐSQD.
  • 3 bệnh nhân bị di căn thân đốt sống.

Các bệnh nhân tiếp tục được theo dõi triệu chứng lâm sàng sau khi tiến hành THĐS, thời gian theo dõi trung bình là 17 tháng, bệnh nhân được theo dõi lâu nhất là 49 tháng. Đáp ứng lâm sàng dựa vào hai tiêu chí chính: giảm đau và cải thiện các triệu chứng phối hợp như: liệt vận động, hạn chế vận động, hạn chế hô hấp....Mỗi tiêu chí được đánh giá ở 4 mức độ: Kết quả rất tốt, có cải thiện, không thay đổi và kết quả xấu đi so với trước đều trị.

KẾT QUẢ

Nhóm bệnh nhân điều trị có độ tuổi trung bình 57 (lớn nhất 85 tuổi, thấp nhất 26 tuổi), 21 bệnh nhân nữ (84%), 4 bệnh nhân nam (16%). Tất cả các bệnh nhân đều có biểu hiện đau cột sống, 8 bệnh nhân có dấu hiệu chèn ép tuỷ. Trong số 31 đốt sống được tạo hình, tiến hành chọc qua cuống sống ở 29 đốt, chọc qua thân ở 2 đốt, 24 đốt sống chỉ chọc 1 bên, 7 đốt sống được chọc hai bên. Ngoài 25 đốt sống chỉ dùng xi măng hoá học đơn thuần, 6 đốt sống khác được kết hợp thêm keo hoá học với tác dụng cầm máu tiền phẫu. Thể tích vật liệu dùng để THĐS trung bình 4,6ml/1 đốt sống, ít nhất là 2ml, nhiều nhất là 10ml. Không có biến trong quá trình chọc kim, biến chứng khi bơm xi măng  

  Biến chứng khi bơm xi măng theo nguyên nhân xẹp đốt sống.

                       NN

BC

Loãng xương

U máu

Di căn

Tràn vào khoang NMC

1

3

1

Tràn vào TMQĐS

0

6

1

Tràn vào lỗ tiếp hợp

1

0

1

Tràn vào đĩa đệm

4

0

0

Không có biến chứng

8/12

6/12

1/3

 

Nhận xét : Có 12/27 trường hợp xuất hiện biến chứng trong quá trình bơm xi măng trong đó, tỉ lệ biến chứng cao nhất ở nhóm bệnh nhân di căn đốt sống do vỏ xương và tường sau đốt sống bị phá vỡ. Các biến chứng gặp ở nhóm bệnh nhân loãng xương thường là các biến chứng nhẹ, không để lại di chứng, bệnh nhân hồi phục tốt, biến chứng thường gặp nhất là tràn xi măng vào dĩa đệm do có đường vỡ xương ở mặt trên hay mặt dưới đốt sống xẹp. Trong các trường hợp u máu đốt sống, các biến chứng chỉ sảy ra khi u máu gây phá vỡ tường sau thân đốt sống hay tổn thương u lan vào cuống sống, các biến chứng nặng như tràn xi măng vào khoang ngoài màng cứng đều được tiên lượng trước khi tiến hành thủ thuật và thường chỉ tiến hành THĐS khi bệnh nhân đã được lên kế hạch mổ. Trong các bệnh nhân mổ sau tạo hình đốt sống có 7 bệnh nhân bị u máu đốt sống xâm lấn khoang ngoài màng cứng gây hẹp ống sống chèn ép tuỷ, 1 bệnh nhân di căn thân đốt sống. Tất cả các bệnh nhân được THĐSQD đều cho thấy hiệu quả giảm đau ở các mức độ khác nhau.

 Diễn biến lâm sàng nói chung sau tạo hình đốt sống.

                       NN

Diễn biến LS

Loãng xương

U máu

Di căn

Tốt

11

7

0

Trung bình

1

2

0

Không đổi

0

2

0

Xấu đi

0

1

0

Tử vong

0

0

3

 

Nhận xét: Trong các bệnh nhân được THĐS, 3 bệnh nhân di căn đốt sống tử vong trong quá trình theo dõi tuy nhiên THĐS cũng có tác dụng giảm đau ở các bệnh nhân này. Triệu chứng lâm sàng cải thiện rất tốt ở nhóm bệnh nhân xẹp đốt sống do loãng xương (92%) và nhóm bệnh nhân bị u máu đốt sống nhưng chưa phá huỷ tường sau chèn ép tuỷ, nhóm bệnh nhân u máu đốt sống gây chèn ép tuỷ mặc dù có phẫu thuật sau THĐS nhưng kết quả hồi phục có hạn chế.

KẾT LUẬN

  • THĐSQD là phương pháp điều trị an toàn (100% bệnh nhân không có biến chứng trong quá trình chọc kim), tỉ lệ biến chứng khi bơm xi măng là 44,4% phụ thuộc vào mức độ toàn vẹn của đốt sống, đối với trường hợp loãng xương và u máu không gây phá vỡ tường sau đốt sống các biến chứng này thường không có biểu hiện lâm sàng. Đối với các trường hợp di căn đốt sống và u máu đốt sống gây phá vỡ tường sau xâm lấn khoang ngoài màng cứng, các biến chứng thường được tiên lượng trước và được giải quyết bằng phẫu thuật sau đó.
  • Tỉ lệ bệnh nhân đạt được hiệu quả giảm đau sau điều trị là 100%.
  • Tỉ lệ cải thiện các triệu chứng lâm sàng nói chung như hạn chế vận động do đau, chèn ép tuỷ, chèn ép rễ... ở mức độ rất tốt và trung bình đạt 77,7%. Đối với các trường hợp u máu đốt sống tiến triển xâm lấn khoang ngoài màng cứng chèn ép tuỷ gây liệt chi dưới, triệu chứng liệt chỉ cải thiện khi bệnh nhân được kết hợp THĐSQD với phẫu thuật giải phóng tủy (4/7 bệnh nhân được phẫu thuật sau THĐSQD triệu chứng liệt chi dưới cải thiện tốt).

Ví dụ minh họa.

 

Tài liệu tham khảo chính.

  1. Dư Đức Chiến, Phạm Minh Thông (2003). Quy trình kỹ thuật tạo hình đốt sống qua da bằng phương pháp đổ xi-măng. Bệnh viện Bạch Mai.
  2. H. Deramond, Claude Depriester, Pierre Galibert, Daniel Le Gars (1998). “Percutaneous vertebroplasty with polymethylmethacrylate”. Radiologic clinics of North America volume 36; 3:533-545.     
  3. J. Chiras, C. Depriester, A. Weill, M. T. Sola Martinez, H. Deramond (1997). "Vertébroplasties percutanées: technique et indications". J. Neuroradiol volume 24; 45-59.