ĐÁNH GIÁ ĐIỂM VÔI HOÁ VÀ XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH VÀNH TRÊN CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH 64 DÃY(CLVT 64)

Banner right

Banner right

shadow

ĐÁNH GIÁ ĐIỂM VÔI HOÁ VÀ XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH VÀNH TRÊN CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH 64 DÃY(CLVT 64)

05/01/2017 11:17 AM - Bài giảng về Tim mạch

ĐÁNH GIÁ ĐIỂM VÔI HOÁ VÀ XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH VÀNH TRÊN CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH 64 DÃY(CLVT 64)  

                                                           Hoàng Thị Vân Hoa, Phạm Minh Thông

Khoa CĐHA Bệnh Viện Bạch Mai

TÓM TẮT:

Bệnh động mạch vành chủ yếu do xơ vữa, vôi hóa động mạch vành là nguyên nhân gây chết hàng đầu tại các nước phát triển. Tại Việt Nam tuy tỷ lệ chưa cao nhưng có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây.Mục đích nghiên cứu Đánh giá điểm vôi hóa và xơ vữa động mạch  vành trên CLVT 64. Đánh giá mối liên quan giữa điểm vôi hóa và tình trạng hẹp động mạch vành. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Đối tượng: 896 bệnh nhân được chụp CLVT động mạch vành tại khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Bạch Mai. loại trừ : bệnh nhân có điểm vôi hóa cao >1000. BN đã đặt stent- không tính được điểm vôi hóa. Phương pháp nghiên cứu: tiến hành trên máy CLVT 64 dãy SOMATOM Sensation.Tiến hành chụp không tiêm thuốc đánh giá điểm vôi hóa . Chụp có tiêm thuốc, đánh giá xơ vữa và tình trạng hẹp mạch, tính hệ số tương quan giữa điểm vôi hóa và mức độ hẹp động mạch vành của từng đoạn mạch tương ứng. Kết quả: Điểm vôi hóa tăng theo tuổi, nam nhiều hơn nữ. Xơ vữa chủ yếu loại có vôi hóa, lệch trục. Có mối tương quan dương giữa điểm vôi hóa và mức độ hẹp động mạch vành. Kết  luận: Chụp CLVT động mạch vành là phương pháp không can thiệp đánh gía tốt hệ động mạch vành. Bệnh nhân có yếu tố nguy cơ, có điểm vôi hóa cao nên  có hướng điều trị phù hợp tránh có hội chứng động mạch vành cấp.

 

ABSTRACT. Evaluation calciscoring and artheriosclerosis of coronary artery on Multi detector computed tomography( MDCT) 64 at Bach Mai Hospital.  

Methods and results A group  896 patients had been examinated  angio scanner coronary artery of Radiology department in Bach Mai’s hospital. Exclude of  patients have calciscoring over 1000 and had done stent coronary artery. All patient had been examined coronary angioscanner on 64 slices computed tomography (SOMATOM Sensation). Analyses calcium score in Agatston Unit were analyzed using SYNGO software. MSCT angioscanner were analyzed on a three-dimensional workstation. Analyzed atherosclerosis, stenosis coronary artery. Results: 896 patients (518 man, 378 woman ), men had higher calcium scores than women and the amount and prevalence of calcium increased steadily with age. The calcium score is correlation with quantitive stenosis coronary artery. Conclusion: MDCT is a noninvasive method which can assesse accuratly the calciumscore and quantitatively the atherosclerostenosis  of coronary artery.

 

Đặt vấn đề

Vôi hoá động mạch vành là một trong các quá trình xơ vữa của động mạch vành, mức độ vôi hoá mạch vành  tính theo thang điểm Agatston, có giá trị tiên lượng mức độ hẹp mạch vành và nguy cơ bệnh mạch vành trong tương lai

Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về điểm vôi hoá động mạch vành, mảng xơ vữa liên quan bệnh lý mạch vành bằng nhiều phương pháp. Chúng tôi tiến hành đề tài  “Đánh giá điểm vôi hoá và xơ vữa động mạch vành trên CLVT 64 tại Bệnh Viện Bạch Mai từ tháng 11/2006 đến tháng 11/2007” nhằm hai mục tiêu:

        1. Đánh giá điểm vôi hoá và xơ vữa động mạch vành trên CLVT 64

        2. Đánh giá mối liên quan giữa điểm vôi hoá và tình trạng hẹp động mạch vành trên chụp CT động mạch vành.

I. Tổng quan: Giải phẫu: Tim được cấp máu bởi động mạch vành phải và động mạch vành trái tạo thành hệ thống riêng không tiếp nối với các động mạch khác. Hiện tượng ưu năng: Chỉ nhánh động mạch nào cấp máu cho thành sau thất. -Bât thường giải phẫu- Bất thường xuất phát: Không có thân chung, động mạch vành phải xuất phát từ  lỗ vành trái, từ động mạch vành trái, động mạch vành trái xuất phát từ lỗ xoang vành phải hoặc từ động mạch vành phải.-Bất thường chỗ đổ- dò động mạch vành: đích đến của động mạch là nơi có áp lực thấp hơn thường tim phải, xoang vành, động mạch phổi.

Sự hình thành vôi hóa- xơ vữa động mạch vành . Các giả thuyết: về phản ứng với chấn thương: phản ứng với chấn thương gây tổn thương lớp nội mạc, tích tụ các thành phần lipid, cholesterol, vôi, các mảnh vụn tế bào vào lớp nội mạc. Các thuyết tiêu bào, thuyết đơn dòng hỗ trợ thuyết trên

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu 896 bệnh nhân được chụp CLVT  động mạch vành tại khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Bạch mai, từ tháng 11 năm 2006 đến tháng 11 năm 2007. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân : nghi bệnh mạch vành được chụp MV bằng chụp cắt lớp vi tính đa dãy tại khoa chẩn đoán hình ảnh BVBM.Tiêu chuẩn lọai bệnh nhân: Các bệnh nhân có lâm nghi ngờ nhưng không được chụp CLVT.Điểm vôi hóa cao >1000. Bệnh nhân đã đặt stent (do không đánh giá  điểm vôi hoá) Phương tiện nghiên cứu: Máy cắt lớp vi tính 64 dãy tại BVBM  SOMATOM sensation. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang dựa trên các số liệu thu được sẽ đưa ra các nhận xét và kết luận.

III.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm chung về bệnh nhân .Tuổi < 40  có 43 BN (4.8%), nhóm tuổi 40-60 có 559 BN (62.4%), nhóm >60 tuổi có 296 BN  (32.8%). Nam 518 chiếm 57.8%, nữ 378 chiếm 42.2%, nam trong mỗi nhóm tuổi có bệnh lý động mạch vành cao hơn nữ giới.  Yếu tố nguy cơ đối với bệnh động mạch vành. nguy cơ đối với bệnh lý tim mạch nói chung và bệnh mạch vành: Hút thuốc lá, đái tháo đường, tăng mỡ máu, tăng huyết áp, thừa cân hay béo phì. Trong 896 bệnh nhân có 725 có ít nhât 1 yếu tố nguy cơ với bệnh tim mạch vành chiếm 80,9%. Chỉ có 171 bệnh nhân không có yếu tố nguy cơ, sự khác biệt giữa nhóm có yếu tố nguy cơ và nhóm không có yếu tố nguy cơ  có ý nghĩa với p < 0.001, Đánh giá điểm vôi hóa : theo tuổi bệnh nhân <40 tuổi, không có bệnh nhân nào có điểm vôi hóa từ trên 100 điểm . Nhóm 40- 60 tuổi có 16 bệnh nhân ,4 bệnh nhân >400 điểm. Nhóm >60 tuổi có 54 bệnh nhân có điểm vôi hóa từ 101-400 và 8 bệnh nhân> 400 điểm. Như vậy trong nghiên cứu của chúng tôi điểm vôi hóa tăng theo tuổi. Theo giới: điểm vôi hóa của nam trong các nhóm điểm vôi hóa đều cao hơn nữ. Đặc biệt trong nhóm >400 điểm, có 11 bệnh nhân nam, chỉ có 1 bệnh nhân nữ. Điểm vôi hoá với các yếu tố nguy cơ bệnh động mạch vành: trong số các bệnh nhân không có yếu tố nguy cơ có 163 bệnh nhân  có điểm vôi hóa  thấp từ (0-10) chiếm 95,32 % (trong 171 bệnh nhân), không có bệnh nhân nào có điểm vôi hóa >100. Trong khi đó số bệnh nhân có điểm vôi hóa >400 tương ứng với có 1, có 2, có 3, có 4 yếu tố nguy cơ là 1,96%, 0,4%, 3,1%, và 3,4%. 3.3  Liên quan giữa điểm vôi hóa và tình trạng hẹp lòng mạch vành tính theo đoạn mạch: mỗi hệ động mạch vành chia thành 4 đoạn chính, động mạch vành phải, thân chung động mạch vành trái, động mạch liên thất trước, động mạch mũ. Có 896 bệnh nhân, 1 không có động mạch vành phải, 2 không có thân chung động mạch vành trái, 1 không có động mạch mũ. Như vây số nhánh mạch đánh giá là 3580 đoạn mạch. Tính ở mức độ hẹp nhất của đoạn mạch: theo 2 mức, hẹp có ý nghĩa bệnh lý (>50%diện tích lòng mạch), hẹp không có ý nghĩa bệnh lý (<50%).

 

Điểm vôi hoá

Động mạch

0-10

11-100

101-400

>400

Tổng

RCA

Hẹp >50%

38

31

9

1

79

Hẹp <50%

789

27

0

0

816

LM

Hẹp >50%

5

3

1

0

9

Hẹp <50%

871

14

0

0

885

LAD

Hẹp >50%

32

76

22

2

132

Hẹp <50%

716

46

2

0

764

LCX

Hẹp >50%

15

21

5

0

41

Hẹp <50%

828

26

0

0

854

Tổng

3294

244

39

3

3580

Mối liên quan giữa mức độ vôi hóa động mạch vành và tình trạng hẹp động mạch biểu hiện qua hệ số tương quan giữa mức độ điểm vôi hóa và mức độ hẹp động mạch vành. Hệ số tương quan tính theo Pearson, xử lý trên phần mềm SPSS 15.0.  Hệ số tương quan giữa điểm vôi hóa và tình trạng hẹp động mạch vành phải R= 0,589. Sự tương quan có ý nghĩa thống kê với mức  p<0,0001. Hệ số tương quan theo Pearson giữa điểm vôi hóa và hẹp lòng  mạch thân chung động mạch vành trái R= 0,492. Sự tương quan có ý nghĩa thống kê với mức p < 0.001. Hệ số tương quan Pearson giữa giữa điểm vôi hóa và hẹp lòng mạch động mạch liên thất trước R=0,727. Sự tương quan có ý nghĩa thống kê với mức p < 0,001. Hệ số tương quan: R=0,636, có sự tương quan chặt chẽ giữa điểm vôi hóa và tình trạng hẹp động mạch mũ. Sự tương quan có ý nghĩa thống kê với mức p < 0,001. Nhận xét: có sự tương quan dương giữa điểm vôi hóa và tình trạng  hẹp động mạch vành.

Hình thái và cấu trúc mảng xơ vữa. Mỗi hệ động mạch vành chia làm 15 đoạn . Động mạch vành phải (RCA): Đoạn gần p- RCA (RCA1), đoạn giữa m-RCA(RCA2), đoạn xa d-RCA(RCA3), động mạch xuống sau PDA. Động mạch vành trái gồm thân chung động mạch (LM), đoạn gần p- LAD (LAD1),đoạn giữa m- LAD (LAD2), đoạn xa d- LAD (LAD3). Nhánh chéo D1,D2 của LAD.  Động mạch mũ  đoạn gần p- LCX (LCX 1),đoạn giữa m- LCX (LCX2), đoạn xa d- LCX (LCX3) Nhánh bờ MO1,MO2 của LCX.  Trong đó có 1 bệnh nhân không có RCA, 1 bệnh nhân không có PDA, 17 bệnh nhân không có D2, 20 bệnh nhân không có MO2, 1 bệnh nhân không có D1, như vậy có 13384 nhánh, đoạn mạch nghiên cứu. Trong tổng số 13384 đoạn mạch, có 852 đoạn mạch có xơ vữa, trong đó chủ yếu là xơ vữa. lệch tâm có vôi hóa 528 đoạn, chiếm 61,97% (trong 852 đoạn mạch). Xơ vữa đồng tâm có vôi hóa 69 đoạn mạch chiếm 8,1%. Xơ vữa lệch tâm  không có vôi hóa 231 đoạn mạch chiếm 27,11%. Xơ vữa đồng tâm  không có vôi hóa 24 đoạn mạch chiếm  2,82%/ Số đoạn mạch không có xơ vữa vôi hóa 12532 chiếm 93,63% (trong 13384 đoạn mạch).

IV BÀN LUẬN .Tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ.  896 bệnh nhân có nam 518 chiếm 57,8%, nữ  378  chiếm 42,2%.Trong nghiên cứu đa sắc tộc của Ralph Haberl và cộng sự nghiên cứu mối tương quan giữa vôi hoá động mạch vành và hẹp động mạch vành trên chụp mạch vành qui ước ở 1760 bệnh nhân nghi hẹp động mạch vành có 56% nam và 47% nữ.Tỷ lệ gặp nhiều hơn bệnh nhân nữ, khả năng do nam có nhiều yếu tố nguy cơ hơn nữ như : hút thuốc lá, tăng huyết áp, mỡ máu, đái đường. Tuổi mắc bệnh trung bình của nam và nữ. tăng theo tuổi, nam nhiều hơn nữ., trung bình của nam 55 ± 11, nữ 58 ± 10. Tạ  Việt Nam theo hội tim mạch học Việt Nam tỷ lệ mắc bệnh mạch vành tăng theo tuổi và  nam giới nhiều hơn nữ . Sự liên quan về khả năng bị bệnh và các yếu tố nguy cơ. Hầu hết bệnh nhân có biểu hiện  xơ vữa động mạch vành trên CT có ít nhất một yếu tố nguy cơ. 4.Hình thái- cấu trúc mảng  xơ vữa: hầu hết là xơ vữa có vôi hóa (62%), lệch tâm (94%).Điểm vôi hóa: Trong nghiên cứu của chúng tôi, điểm vôi hóa tăng theo tuổi, nhóm tuổi <40 tuổi điểm vôi hoá thấp trung bình 1,253±5,6 (trong 43 bệnh nhân), 12,215 ± 54,2( trong 559 bệnh nhân), 55,455 ± 104,1 (trong 294 bệnh nhân). Robyn L. McClelland  và cộng sự  nghiên cứu trên 10 746 bệnh nhân từ 22-96 tuổi, thấy có mối tương quan tuyến tính thuận giữa tuổi và điểm vôi hoá, nam giới có điểm vôi hoá cao hơn nữ. Có mối tương quan thuận giữa mức độ điểm vôi hóa và mức độ hẹp động mạch vành. Điểm vôi hóa càng cao, khả năng hẹp động mạch vành càng nhiều [8].

KẾT LUẬN: Điểm vôi hoá của nam cao hơn nữ giới trong mỗi nhóm tuổi. Điểm vôi hoá tăng theo tuổi, mức độ vôi hoá không khác biệt giữa hai giới. Bệnh nhân  không có yếu tố nguy cơ có điểm vôi hoá thấp. Hình thái các mảng xơ vữa thường lệch trục, có vôi hoá. Có mối tương quan chặt chẽ giữa  điểm vôi hóa động mạch với mức độ hẹp của động mạch trên chụp CLVT 64 động mạch vành

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Phạm gia Khải  và cộng sự (2000): “Bước đầu đánh giá kết quả phương pháp nong động mạch vành bằng bóng và đặt khung giá đỡ Stent trong điều trị bệnh động mạch vành cho 131 bệnh nhân tại viện tim mạch quốc gia”.Kỉ yếu các công trình nghiên cứu khoa học (138-149)

2.Nguyễn văn Tiệp (2000), xơ xữa động mạch và các hình thái khác của xơ cứng động mạch, Các nguyên lý y học nội khoa - tập 3- sách dịch -Nhà xuất bản y  học

3.Agatston AS. (1991): “Quantification of coronary calcium reflects the angiographic extent of coronary artery disease. Circulation. 84(suppl  II):II-159

4.Michael J. LaMonte (2005): “Coronary Artery Calcium Score and Coronary Heart Disease Events in a Large Cohort of Asymptomatic Men and Women (American Journal of Epidemiology Advance Access originally published online on August 2, 2005)

5.Ralph Haberl (2001): “Correlation of coronary calcification and angiographically documented stenoses in patients with suspected coronary artery disease: results of 1,764 patients “ (J Am Coll Cardiol, 2001; 37:451-457)

6.Robyn L. McClelland and others (2006)” Distribution of Coronary Artery Calcium by Race, Gender, and Age “(Circulation. 2006;113:30-37)