CLVT 64 DÃY TRONG PHÁT HIỆN DỊ DẠNG BẨM SINH MẠCH VÀNH

Banner right

Banner right

shadow

CLVT 64 DÃY TRONG PHÁT HIỆN DỊ DẠNG BẨM SINH MẠCH VÀNH

05/01/2017 11:17 AM - Bài giảng về Tim mạch

CLVT 64 DÃY TRONG PHÁT HIỆN DỊ DẠNG BẨM SINH MẠCH VÀNH

Nguyễn Quốc Dũng

Bệnh viện Hữu Nghị

ABSTRACT: MSCT 64 in the detection of congenital coronary disorders.

  • Variants of coronary Artery anatomy be investigated with the MSCT 64.
  • Coronary artery anormalies ars defined as abnormalities in the origin,  course or distribution of coronary arteries.
  • Sudden death is often asscociated with two anormalies (1) the left main artery and right coronary artery arising from the right aortic sinus, with the abnomaties left main coronary artery coursing between the aorta and pulmonary trunk; and (2) The left main artery and right coronary artery originating from the left aortic sinus and the anomaluos right coronary artery coursing between the aorta and pulmonary trunk.

ĐẶT VẤN ĐỀ Bất thường giải phẫu động mạch vành (BTGPĐMV) là một trong những nguyên nhân gây ra các cơn đau ngực,  chiếm 0,3% – 1,5% dân số (theo Yamanaka O - 1990). Việc phát hiện các BTBSĐMV có ý nghĩa quan trọng  vì  có thể là nguyên nhân chết đột tử (12% tử vong ở các vận động viên trẻ), cũng như tai biến khi phẫu thuật tim mạch. Các BTGPĐMV chiếm tỷ lệ cao hơn khi có bất thư­ờng bệnh tim bẩm sinh kèm theo, khoảng 3 – 36%/ tổng số BN tim bẩm sinh. CLVT 64 dãy có ý nghĩa quan trọng trong phát hiện các BTGPĐMV.

Mục đích nghiên cứu: Đánh giá khả năng phát hiện các bất thường mạch vành trên hình CLVT 64 dãy.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP   Gồm bệnh nhân chụp mạch vành, máy CLVT 64 tại BV Hữu Nghị Hà Nội, từ tháng 11/2006 đến  6/2008.Nghiên cứu tiến cứu cắt ngang.

Kỹ thuật khám Máy CLVT 64 Light speed plus (GE- Mỹ), có tốc độ quét 370ms/ vòng quay, tái tạo đa pha (từ 40-80% khoảng R-R), tái tạo ảnh với độ dày 1mm chồng giữa các lớp cắt là 0,5mm. Thuốc cản quang nonionic 90ml  (loại Xenétic 350,  Ultravist, tốc độ tiêm 5ml/s, liên tục với 50ml nước muối sinh lý, thời điểm thu nhận ảnh ở vị trí động mạch chủ lên khi tỉ trong đạt tới 110UH. Tạo ảnh phần mềm aw 4.3 với  MPR (multi-planer refomation), MIP (maximum intensity projection), SSD (shared surface display), VRT (volume rendering technique), CPR (curved planer refomation), VE (virual endoscopy)

KẾT QUẢ 1268 bệnh nhân Tuổi: 28 – 81, giới: Nam > Nữ, tỷ lệ ~ 5/1

 Tỷ lệ % bất thư­ờng GPĐMV

 

  Các dạng bất          th­ường

 

Số bệnh nhân

Bất thư­ờng lỗ xuất phát

Bất thư­ờng     hư­ớng đi

Bất thường nhánh tận

Tổng số

Số bệnh nhân bất thư­ờng GPĐMV

 

55

 

4

 

10

 

69

Tổng số BN chụp mạch vành

 

1268

 

5,44 %

        Các   

        dạng   

          

 

 

 

 

Bất thư­ờng lỗ xuất phát

Bất thường h­ướng đi

Bất th­ường nhánh tận

Lỗ xuất phát nằm cao

Nhiều lỗ xuất phát

Lỗ xuất phát từ bên đối diện

Cầu cơ

Động mạch liên thất trước đôi

Nhánh tận đổ vào ĐM phổi

Nhánh tận thông với tĩnh mạch

Nhánh tận đổ ngoài tim

Bất thư­ờng nhánh nón từ xoang Valsalva

Không có thân chung ĐM vành trái

Lỗ xuất phát ĐM  vành phải

 Lỗ xuất phát ĐM mũ

Số BN  

9

11

10

14

3

6

0

2

3

1

 

47

6

6

Tổng   

59

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀN LUẬN . Bệnh mạch vành là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Việt nam cũng như trên thế giới. Theo dự đoán đến năm 2010, sẽ có khoảng 9,37 triệu, năm 2020 là11 triệu bệnh nhân tử vong hàng năm. Để chẩn đoán bệnh mạch có thể sử dụng các kỹ thuật: khám lâm sàng, điện tim, điện tim gắng sức, siêu âm tim- stress, cộng hưởng từ, siêu âm nội mạch đến chụp CVLT  đa dãy (64 dãy) đã cho những kết quả khả quan trong đánh giá và tiên lượng. Chụp mạch vành qui ước là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán bệnh lý mạch vành. Tuy nhiên là kỹ thuật xâm nhập, không thể sử dụng trên diện rộng, có thể có những biến chứng (khoảng 1-2%). Chụp CLVT đa dãy, theo một số tác giả, có giá trị dự đoán dương tính từ 80-85% và giá trị dự đoán âm tính từ  95-97%. Tần suất các dị dạng mạch vành chiếm vào khoảng 0,3-1,5% dân số và  0,3% trong mổ tử thi. Bất thường bẩm sinh mạch vành ở gốc (chiếm 87%), ở các mạch tận (13%), [Achenbach S – 2001]. Bất thường bẩm sinh ở vị trí xuất phát từ động mạch chủ có thể là bất thường ngay vị trí cuả xoang Valsalva ở cùng bên hay đối bên tạo nên đường đi của động mạch vành ở trước hay ở sau động mach chủ, động mạch phổi, kẹp giữa động mạch chủ và động mạch phổi. Thường gặp nhất là các bất thường liên quan tới thân mạch vành trái (48%) trong đó vị trí xuất phát của thân chung vành trái xuất phát từ xoang Valsalva phải (9%) hoặc trực tiếp từ động mạch vành phải ( Barbara K – 2006). Các bất thường vị trí xuất phát động mạch vành phải hiếm hơn ( 22%). Bất thường động mạch mũ chiếm 17% trong đó 11% liên quan tới vị trí xuất phát của động mạch mũ từ xoang Valsalva phải, 6% từ động mạch vành phải.

Bất thường liên quan tới vị trí xuất phát từ động mạch phổi: động mạch vành trái xuất phát từ động mạch phổi có thể tạo ra những tuần hoàn bàng hệ với dộng mạch vành phải. Bất thường này hay gặp ở trẻ sơ sinh với các biểu hiện thiếu máu cục bộ cơ tim do giảm tưới máu động mạch vành trái. Đôi khi cũng có thể gặp động mạch vành phải xuất phát từ động mạch phổi phải. Các bất thường bẩm sinh loại này có thể liên quan tới các bệnh tim bẩm sinh như bệnh tứ chứng Fallot. Có thể phân biệt các bất thường nguy cơ cao với các bất thường khác. Theo Tissier, các bất thường nguy cơ cao chiếm tới 19% và thường liên quan tới vị trí xuất phát động mạch, động mạch đi qua khe động mạch chủ và động mạch phổi. Bệnh nhân có dấu hiệu đau ngực không điển hình khi gắng sức trong khi kết quả siêu âm tim là bình thường, chết đột tử thường liên quan đến các môn thể thao thành tích cao ở người trẻ (12-19%). Một số trường hợp có thể do dị dạng “cầu cơ” với động mạch vành bị bao bọc bởi tổ chức cơ tim và tổ chức liên kết. Khi hoạt động gắng sức cơ tim co bóp gây co thắt mạch vành làm thiếu máu cục bộ cơ tim. Thư­ờng gặp nhất ở đoạn giữa LAD, các nhánh chéo và nhánh bờ cũng có thể bị ảnh hư­ởng. Tiên lượng các dị dạng bẩm sinh có tính “ác tính” phụ thuộc vào khả năng phẫu thuật “cầu nối” hay khả năng sửa chữa dị dạng mạch vành. Chẩn đoán sớm và chính xác các bệnh lý “ác tính ” này sẽ giảm thiểu tỷ lệ đột tử..

Giá trị các phương pháp chẩn đoán hình ảnh: Hình ảnh X quang lồng ngực bình thường. Siêu âm tim qua thực quản có thể thấy rõ hơn siêu âm thường quy vị trí xuất phát của động mạch vành tuy nhiên độ nhạy thấp. Đôi khi sự bất thường về đường đi của động mạch vành phải khi đi qua động mạch chủ có thể nhầm với phình tách động mạch chủ. Siêu âm có thể có ưu điểm so với CT và cộng hưởng từ đối với các trường hợp trẻ sơ sinh.

Chụp động mạch vành thường quy qua động mạch đùi hay động mạch quay không phải lúc nào cũng phát hiện được các dị dạng mạch vành nhất là với các bất thườngliên quan tới đường đi của động mạch vành giữa động mạch chủ và động mạch phổi.

CLVT đa dãy có một ý nghĩa quan trọng trong phát hiện các bất thường bẩm sinh mạch vành. Với khả năng tạo ảnh đa dạng, không can thiệp, kỹ thuật này mang lại các thông tin đầy đủ về hình ảnh mạch và tương quan giải phẫu các tổ chức lân cận ở nhiều bình diện.

Hiện nay cộng hưởng từ đã có những tiến bộ đáng kể trong phát hiện các bệnh lý tim mạch cho thấy nó chưa thể thay thế CLVT đa dãy (64 dãy đánh giá bệnh động mạch vành.

KẾT LUẬN:

CLVT 64 dãy là phư­ơng tiện thăm khám mới được ứng dụng trong khảo sát hệ mạch vành, cho phép tái tạo hệ mạch vành theo hình ảnh không gian ba chiều, CLVT 64 dãy có ­ưu thế v­ợt trội so với chụp mạch vành qui ước

Tỷ lệ các bất thư­ờng giải phẫu ĐMV không nhiều nh­ưng việc biết trước về các BTGPĐMV kết hợp với lâm sàng sẽ giúp ích cho bệnh nhân trong quá trình điều trị. Các bất thường bẩm sinh mạch vành có thể được phát hiện và chẩn đoán chính xác với CLVT 64 dãy. Trong các bất thường giải phẫu cần lưu ý đặc biệt tới bất thường liên quan tới đường đi của động mạch vành giữa động mạch chủ và động mạch phổi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1/ Aydinlar A, Cicek D, Senturk T et al. Primary congenital anomalies of the coronary arteries: a coronary arteriographc study in

Western Turkey. Int Heart J 2005; 46:97-103.

2/ Achenbach S, Ropers D, Regenfus M et al. Non invasive coronary angiography by magnetic resonance imaging, electronbeam computed tomography, and multislice computed tomography. Am J Cardiol 2001;88:7-73E.

3/ Barbara K, Kohlmann R, Fuchs A et al. Illustration de l’anatomie coronaire en Scanner Volumique.J Radiol 2004;85:1975-83.

Vincke P, Hamoir X, Kirsch J. En 2006, le radiologeu devrait connaitre l’anatomie du Coeur. J Radiol 2006;87:664-6.

4/ Frescura C, Basso C, Thiene G et al. Anomalous origin of coronary arteries and risk of sudden death: a study based on an autopsy population of congenital heart disease. Hum Pathol 1998;29:689-95.

5/ Tissier S, Codrianu A, Nicolas M, Laurent V, Aliot E, Regent D. Quel est votre diagnostic? J Radiol 2005;105:1449-54.

6/ Yamanaka O và cộng sự – 1990. Coronary artery anomales in 126595  patients undergoing coronary arteriography. Cathet Cardio-vasc Diagn 1990;21:28-40