PHỔI BIỆT LẬP – BÁO CÁO 1 TRƯỜNG HỢP.

Banner right

Banner right

shadow

PHỔI BIỆT LẬP – BÁO CÁO 1 TRƯỜNG HỢP.

05/01/2017 11:08 AM - Bài giảng về Hô hấp

PHỔI BIỆT LẬP BÁO CÁO 1 TRƯỜNG HỢP.

Nguyễn Quốc Dũng

                                                                                             Hoàng Việt Dũng

         Bệnh viện Hữu nghị

 ABSTRACT: Pulmonary sequestration. A case report. a rare congenital anomaly, receives blood supply from one of more anomalous systemic arteries. Venous drainage is usually via the pulmonary without any connection to the trachebronchial tree. Confirmatory diagnosis requires angiography or computed tomography angiogram. Treatment of choice remains surgical removal. We report a case of a 46 y. o. man with intrapulmonary sequestration which treated by ablation.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phổi biệt lập là bệnh lý bẩm sinh hiếm gặp. Giải phẫu bệnh là một vùng mô phổi không có chức năng, không hoặc ít liên kết với khí phế quản. Động mạch cấp máu bất thường xuất phát từ động mạch chủ ngực, chủ  bụng, thân tạng. Tĩnh mạch trở về qua tĩnh mạch phổi hoặc các tĩnh mạch chủ trên. Phổi biệt lập chiếm khoảng 0.15%-6.4% trường hợp bẩm sinh ở phổi và khoảng 1%-1.5% các trường hợp cắt phổi (Depra -1992). Chẩn đoán xác định dựa vào chụp mạch hoặc CLVT, điều trị chủ yếu dựa vào phẫu thuật. Phổi biệt lập thường được chia làm hai loại: biệt lập trong thuỳ và ngoài thuỳ.  

GIỚI THIỆU BỆNH NHÂN(BN). Nam, 46 tuổi tiền sử viêm phế quản mạn, vào viện vì rối loạn tiêu hoá, đau bụng. Soi đại tràng phát hiện khối u ở đại tràng sigma, sinh thiết là ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinoma). BN được chụp  CLVT ổ bụng đánh gía sự xâm lấn của u đại tràng sigma, trên các lớp cắt phát hiện  vùng HPT X trái có nốt mờ đường kính 1.5 x 2.5 cm tròn đậm độ đồng nhất. Khối không ngấm thuốc cản quang. Chẩn đoán: K đại tràng theo dõi di căn phổi, phẫu thuật cắt u, phát hiện có dấu hiệu xâm lấn phúc mạc, điều trị phối hợp hoá chất. Theo dõi  trên CLVT thấy không có thay đổi khẩu kính đám mờ. Phân tích các ảnh có tiêm cản quang thấy có một nhánh mạch lớn ngấm thuốc như động mạch chủ, xuất phát từ động mạch chủ ngực, đặc biệt không thấy các biến đổi về lưới phổi. Hội chẩn nghĩ tới: -dị dạng mạch máu phổi,- nhân di căn ở phổi và cũng có khả năng là phổi biệt lập.

Phẫu thuật mở ngực bên qua khoang liên sườn VI phía sau, vén phổi  ra trước thấy một cuống mạch đường kính 5mm từ động mạch chủ xuống đổ vào phân thuỳ dưới phổi, cắt động mạch này. Cách khoảng 1cm về phía trên thấy một nhánh mạch nữa đường kính 2mm cũng xuất phát từ động mạch chủ, cắt nhánh này. Thấy được ranh giới giữa thuỳ dưới với thuỳ phổi biệt lập. Không thấy có cuống phế quản, không xì hơi, cắt thuỳ phổi biệt lập, bên trong thấy một ổ áp xe nhỏ.

BÀN LUẬN

Theo J.Remy phổi biệt lập có dạng điển hình là loại trong hay ngoài thuỳ và nhiều dạng khác. Trên hình X quang là nốt mờ, 2/3 ở thuỳ dưới trái, 1/3 liên quan đến thuỳ dưới phải và thường liên tiếp với cơ hoành. Đám mờ thường có bờ đều, rõ nét, hình tròn hoặc bầu dục. Chẩn đoán phân biệt các hình mờ :-dạng u phổi nguyên phát hoặc thứ phát, u lành tính như u tuyến(Adenoma), u biểu mô thừa(Hamartoma),- dạng nhiễm trùng,(viêm phổi), kén ký sinh trùng,-dạng bệnh lý mạch máu (nhồi máu phổi, bất thường động tĩnh mạch phổi), máu tụ…Theo nhiều tác giả CLVT có nhiều lợi thế hơn X quang thường qui. Chụp động mạch chủ số hoá có giá trị phát hiện tĩnh mạch dẫn lưu vào tĩnh mạch phổi (loại trong thuỳ) hay tĩnh mạch phế quản (loại ngoài thuỳ). Tuỳ theo sự xuất hiện của động mạch phổi và hệ thống mạch máu khác, vị trí phổi biệt lập có thể trên, trong hay dưới cơ hoành. Phổi biệt lập trong thuỳ chiếm 75%, thường ở phân thuỳ X bên trái nên hay có viêm tái ở vùng này. Phổi biệt lập có thể thành khối, thành hang, thường nhiều hang. Mặc dù biệt lập với phổi lành nhưng vẫn có sự thông giữa chúng. Thường có những biến chứng viêm nhiễm, cả lao hoặc nấm, K, thường có kèm theo các ổ giãn phế nang. Hay gặp các động mạch bất thường. Một số tác giả có nêu hình các động mạch của dây chằng phổi, động mạch hoành dưới. Phổi biệt lập ngoài thuỳ chiếm khoảng 15-25%, trong đó 6-90% nằm ở bên trái, giữa phổi và cơ hoành. Phần lớn ở trẻ em, đặc biệt hơn nửa có phối hợp với các bất thường khác, đa số có hình ảnh tĩnh mạch trở về. Khối biệt lập không có phế nang hoặc kén, hay ở hạ phân thuỳ X trái, phần trên, vùng trung thất, tim và cạnh tim, hay thấy phối hợp thoát vị hoành sau trái qua lỗ Bochdaleck. Có thể thấy nhão cơ hoành.  

Phân biệt giữa phổi biệt lập trong thuỳ và ngoài thuỳ:

 

Phổi biệt trong thuỳ

Phổi biệt lập ngoài thuỳ

Hình thái

Khối hoặc hang

Khối

Định khu

Phân thuỳ sau nền (X), 60% ở bên trái trên cơ hoành

Phân thuỳ sau nền(X), 90% ở bên trái, trên, trong hoặc dưới cơ hoành

Màng phổi

Thông với phổi

Màng phổi riêng

Thông với phế quản

Rất hiếm

Đặc biệt hiếm

Thông với đường tiêu hoá

Rất hiếm

Rất hiếm

Hệ thống mạch

Tưới máu động mạch phổi

Không

Không

Tĩnh mạch trở về

Phổi

Hệ thống

Thoát vị hoành

Hiếm

Hay gặp

Bất thường phối hợp

Hiếm

Hay gặp

Tuổi phát hiện

Trẻ em hay người lớn

Nhũ nhi

 

   KẾT LUẬN:

 CLVT có gía trị lớn trong chẩn đoán bệnh lý phổi biệt lập. Sự phối hợp giữa hình đám mờ phổi với hình mạch phổi bất thường gợi ý phổi biệt lập. CLVT- 64  có ưu điểm tạo ảnh đa bình diện, với chương trình tạo ảnh mạch máu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Rémy Jardin M, Rémy J. Spiral CT angiography of the pulmonary circulation. Radiology 1999; 212 : 615 – 636.
  2. Frazier AA, Rosado Christention ML, Stocker JT, Templeton PA. Intralobar sequestration : Radiologic – Pathologic correlation. RadioGraphics 1997 ; 17 : 725 – 745.
  3. Do KH, Goo JM, Im JG, Kim KH, Chung JW, Park JH, Systemic arterial supply to the lung in adults : Spiral CT findings. RadioGraphic 2001 ; 21: 387 – 402.
  4. Corbett HJ, Humphrey GM. Pulmonary sequestration. J Pediatric Surg. 2004; 5: 59- 68.
  5. Lin CH, Lin CT, Chen CY, Peng CH, Chen HC, Wang PY. Pulmonary sequestration. Chin Med J (Taipei) 1994; 88: 65 - 66