NHẬN XÉT MỐI LIÊN QUAN GIỮA CÁC ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CHỤP MẠCH SỐ HÓA ...

Banner right

Banner right

shadow

NHẬN XÉT MỐI LIÊN QUAN GIỮA CÁC ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CHỤP MẠCH SỐ HÓA ...

05/01/2017 10:22 AM - - Bài giảng về ĐQCT

NHẬN XÉT MỐI LIÊN QUAN GIỮA CÁC ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CHỤP MẠCH SỐ HÓA XÓA NỀN VỚI MỘT SỐ BIỂU HIỆN LÂM SÀNG THƯỜNG GẶP CỦA DỊ DẠNG THÔNG ĐỘNG TĨNH MẠCH NÃO

Phạm Hồng Đức(1), Đinh Văn Thuyết(2), Phạm Minh Thông (1), Lê Văn Thính (3).

  1. Khoa CĐHA-BV Bạch Mai
  2. Khoa CĐHA-BV E
  3. Khoa Thần kinh-BV Bạch Mai

Abstract

Title: Comment the relationships between angioarchitectural features on DSA imagings and  popular clinical presentations of brain arteriovenous malformations.

Purpose: Associations between popular clinical presentations such as hemorrhagic and epilepsy of brain arteriovenous malformations (AVMs) and their angioarchitecture have been described event through multivariate statistical methodology.

Subjects and Methods: A total of 221 patients with AVMs were studied. Univariate and multivariate analyses were conducted in order to test the associations between morphological features and hemorrhagic and epileptic presentation.

Results: Patients had hemorrhagic presentations at diagnosis in 120 cases (54.3%). AVMs had bleeding with venous stenosis in 71.74% (OR=2.89; 95% CI=1.35-6.18), with single draining vein in 76.32% (OR=2.38; 95% CI=1.18-4.78),  and  with AVMs <3cm in 68.38% (OR=1.97; 95% CI=1.01-3.87). Hemorrhage was the initial presentation in 72.22% (39/54) of the deep-seated AVMs and 48.50% (81/167) of the superficial location, but these differences were not significant in multivariate analyses. Hemorrhage was also negatively associated with deep feeders, single feeder, deep venous drainage and Spetzler-Martin low-grade (I-II).

Patients had epileptic presentations at diagnosis in 48 cases (21.74%). AVMs had epilepsy with multiple draining veins in 39.39% (OR= 2.63; 95% CI=1.24-6.58),  and  with dilated draining vein in 44.83% (OR=2.64; 95% CI= 1.05- 6.58). Epilepsy was  negatively associated with the superficialy located AVMs, AVMs >3cm, multiple feeders and superficial draining vein.

Conclusion: This study suggests that AVMs with small nidus, single draining vein, and venous stenosis  were significant asociated features for  hemorrhagic presentation. It also suggests AVMs with multiple and dilated draining veins were significant asociated features for epilepsy.

Key words: brain arteriovenous malformations, angioarchitectural features, hemorrhagic presentation, epilepsy.

Tóm tắt

Mục đích: Mô tả mối liên quan giữa các đặc điểm cấu trúc mạch và các biểu hiện lâm sàng là xuất huyết và động kinh của dị dạng thông động tĩnh mạch não thông qua phương pháp phân tích đa biến.

Đối tượng và Phương pháp: Tổng cộng có 221 bệnh nhân DDĐTMN được nghiên cứu. Phân tích đơn và đa biến được thực hiện để kiểm nghiệm phối hợp giữa các đặc điểm hình thái với các biểu hiện xuất huyết và động kinh.

Kết quả: DDĐTMN biểu hiện xuất huyết tại thời điểm chẩn đoán có 120 trường hợp (54.3%). DDĐTMN chảy máu có hẹp tĩnh mạch chiếm 71.74% (OR=2.89; 95% CI=1.35-6.18), có tĩnh mạch dẫn lưu duy nhất chiếm 76.32% (OR=2.38; 95% CI=1.18-4.78), và DDĐTMN <3cm chiếm 68.38% (OR=1.97; 95% CI=1.01-3.87). Vị trí DDĐTMN nằm sâu có biểu hiện xuất huyết ban đầu chiếm 72.22% (39/54), ngược lại nằm nông chiếm  48.50% (81/167), nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê trong phân tích đa biến. Tương tự, xuất huyết cũng không liên quan đến động mạch nuôi sâu, động mạch nuôi duy nhất và tĩnh mạch dẫn lưu sâu.

Số bệnh nhân DDĐTMN có biểu hiện động kinh là 48 trường hợp (21.74%). Trong đó, ổ dị dạng có nhiều tĩnh mạch dẫn lưu chiếm 39.39% (OR= 2.63; 95% CI=1.24-6.58), và có tĩnh mạch dẫn lưu giãn phình chiếm 44.83% (OR=2.64; 95% CI= 1.05- 6.58). Động kinh không liên quan với các DDĐTMN có vị trí nông, kích thước lớn hơn 3 cm, nhiều cuống mạch nuôi và tĩnh mạch dẫn lưu nông.

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy DDĐTMN kích thước nhỏ <3cm, tĩnh mạch dẫn lưu duy nhất và có hẹp là những đặc điểm liên quan có ý nghĩa với biểu hiện xuất huyết. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng DDĐTMN có từ hai tĩnh mạch dẫn lưu trở lên và có tĩnh mạch dẫn lưu giãn phình là các yếu tố liên quan có ý nghĩa tới biểu hiện động kinh.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dị dạng thông động - tĩnh mạch não (DDĐTMN) là một bất thường bẩm sinh của mạch máu não, bản chất là một đám gồm động mạch và tĩnh mạch mà ở đó dòng máu từ động mạch có áp lực cao chảy thẳng sang tĩnh mạch, đi qua một hoặc nhiều mạch thông mà không có hệ thống mao mạch trung gian. DDĐTMN gồm ba thành phần là các động mạch nuôi, ổ dị dạng và tĩnh mạch dẫn lưu [2].

Biểu hiện lâm sàng của DDĐTMN gồm xuất huyết, động kinh, đau đầu, các dấu hiệu thần kinh khu trú và một số triệu chứng khác như chóng mặt, lác mắt [2]. Trong đó, xuất huyết nội sọ trong là biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất, gây hậu quả nặng nề nhất và tiến triển dẫn đến tử vong cao, chiếm từ 30 đến 82% các trường hợp [3]. Động kinh cũng là triệu chứng hay gặp trong bệnh cảnh lâm sàng của DDĐTMN sau chảy máu não, chiếm khoảng 30% các trường hợp [14]. Do đó, nhận dạng các yếu tố nguy cơ xuất huyết và động kinh của DDĐTMN là rất quan trọng để đưa ra chiến lược điều trị. Trong y văn cũng có những nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, nhưng thường cho những kết luận khác nhau.

Mục đích nghiên cứu của chúng tôi là phân tích những đặc điểm hình thái của DDĐTMN và làm sáng tỏ thêm mối tương quan của chúng đến biểu hiện xuất huyết và động kinh.

PHƯƠNG PHÁP

Nghiên cứu bệnh chứng trên 221 bệnh nhân  được chỉ định chụp và được chẩn đoán xác định là DDĐTMN trên máy mạch số hóa xóa nền (DSA) tại Khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Bạch Mai, từ 01/2002- 08/2010. Các dạng dị dạng mạch khác không phải là DDĐTMN như dò màng cứng, thông động mạch cảnh-xoang hang, dị dạng tĩnh mạch Galen, không nằm trong nghiên cứu này.

Biểu hiện xuất huyết được chẩn đoán xác định bằng chụp cắt lớp vi tính (CLVT) và/hoặc cộng hưởng từ (CHT) sọ não. Biểu hiện động kinh được xác định dựa vào tiền sử, dấu hiệu lâm sàng và kết quả điện não đồ. Cấu trúc mạch của ổ dị dạng bao gồm vị trí, kích thước, đặc điểm động mạch nuôi, hình thái tĩnh mạch dẫn lưu được phân tích trên phim chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) có phối hợp với  CLVT và/ hoặc CHT.

Vị trí DDĐTMN được xắp xếp làm hai nhóm nông nằm vỏ hoặc dưới vỏ các thùy não (trán, đỉnh, thái dương, chẩm, thùy đảo), vùng sâu (hạch nền, đồi thị, thể trai và dưới lều). Kích thước ổ dị dạng (đường kính tối đa) được phân chia theo phân loại của Spetzler-Martin thành nhỏ (<3cm), trung bình (3-6cm) và lớn (>=6cm).

Các đặc điểm động mạch nuôi được phân tích gồm: DDĐTMN được cấp máu bởi các nhánh nông, sâu hoặc phối hợp cả nông và sâu; nhóm cấp máu nông là các nhánh vỏ của động mạch não trước, giữa và sau; nhóm cấp máu sâu gồm các nhánh xuyên, đám rối mạch mạc và các động mạch hố sau. Số lượng động mạch nuôi (1, 2, 3 và >3). Phình mạch được phân theo vị trí của chúng, gồm phình trong ổ dị dạng và ở động mạch nuôi.

Các đặc điểm tĩnh mạch dẫn lưu gồm: vị trí nông, sâu hoặc phối hợp; số lượng (1, 2, >2); và bất thường tĩnh mạch gồm hẹp (trên >50%) hoặc giãn phình.

Phân tích thống kê được sử dụng để kiểm định các yếu tố cấu trúc mạch nêu trên liên quan có ý nghĩa đến biểu hiện xuất huyết và động kinh. Cả thống kê mô tả và phân tích sẽ được thực hiện. Các biến độc lập được lựa chọn cho phân tích đơn biến từ đó đưa ra mô hình phân tích đa biến. Các dữ liệu được phân tích trên Stata.10 với mức ý nghĩa thống kê p <0.05.

KẾT QUẢ

Tuổi trung bình tại thời điểm chẩn đoán là 31.9+/-13 tuổi, nhỏ nhất là 7, lớn nhất là 65. Đối tượng gồm có 143 nam (64.7%) và 78 nữ (35.3%).

Trong 221 DDĐTMN có 120 (54.3%) các trường hợp xuất huyết. Liên quan giữa các đặc điểm hình thái của DDĐTMN và xuất huyết được thể hiện trong bảng 1.

Đặc điểm vị trí của ổ dị dạng, thấy có 81 trường hợp bị xuất huyết trong 167 DDĐTMN nằm nông (48.5%), tương tự có 39/54 trường hợp nằm sâu (72.22%). Có 80/117 ổ dị dạng kích thước nhỏ (<3cm) bị xuất huyết (68.38%).

DDĐTMN bị xuất huyết trong nhóm có một cuống mạch nuôi chiếm 29/38 trường hợp (76.32%), trên 2 cuống chiếm 91/183 (49.73%). DDĐTMN bị xuất huyết trong nhóm có phình mạch thấy 29/42 trường hợp (69.05%), trong nhóm không có phình mạch chiếm 91/179 trường hợp (50.84).

Xuất huyết trong nhóm tĩnh mạch dẫn lưu sâu đơn thuần chiếm 29/42 trường hợp (77.55%). DDĐTMN bị xuất huyết trong nhóm có một tĩnh mạch dẫn lưu  thấy 100/155 trường hợp (64.52%), trên 2 có 20/66 (30.3%). Xuất huyết trong nhóm có hẹp tĩnh mạch chiếm 33/46 (71.74%).

Phân tích đơn biến (bảng 2) phối hợp xuất huyết với các yếu tố vị trí nông sâu, kích thước nhỏ <3cm, động mạch nuôi duy nhất và có phình mạch, tĩnh mạch dẫn lưu sâu, duy nhất và có hẹp đều có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P<0.05.

Các yếu tố có ý nghĩa trong phân tích đơn biến được tiếp tục phân tích đa biến nhằm phân biệt có ý nghĩa hơn (bảng 3). Kết quả phân tích cuối cùng cho thấy còn lại có ba yếu tố có ý nghĩa thống kê: DDĐTMN có kích thước nhỏ <3cm, tĩnh mạch dẫn lưu duy nhất và tĩnh mạch dẫn lưu có hẹp.

  Bảng 1: Mô tả đặc điểm hình thái của DDĐTMN và biểu hiện xuất huyết.

Đặc điểm tổn thương

Số lượng (n)

Xuất huyết (n)

Tỉ lệ (%)

P

Vị trí

Sâu

54

39

72.22

0.002

Nông

167

81

48.50

Kích thước

=<3cm

117

80

68.38

<0.001

>3cm

104

40

38.46

Hẹp TM dẫn lưu

46

33

71.74

0.008

Không

175

87

49.71

Số lượng ĐM nuôi

Duy nhất

38

29

76.32

0.003

Nhiều

183

91

49.73

Phình trong ổ dị dạng

42

29

69.05

0.033

Không

179

91

50.84

TM dẫn lưu sâu đơn thuần

49

38

77.55

<0.001

Không

172

82

47.67

Số lượng TM dẫn lưu

Duy nhất

155

100

64.52

<0.001

Nhiều

66

20

30.30

Mật độ

Khu trú

169

95

56.21

0.303

Lan tỏa

52

25

48.08

 

Bảng 2: Phân tích đơn biến các đặc điểm hình thái của DDĐTMN phối hợp với biểu hiện xuất huyết

Đặc điểm

OR

95% CI

Vị trí sâu của ổ dị dạng

2.76

1.41-5.38

Kích thước nhỏ <3cm

3.46

1.98-6.03

ĐM nuôi duy nhất

3.26

1.46-7.26

Phình mạch nuôi-ổ dị dạng

2.16

1.05-4.42

TM dẫn lưu sâu đơn thuần

3.79

1.82-7.90

TM dẫn lưu duy nhất

4.18

2.25-7.77

TM dẫn lưu hẹp

2.57

1.27-5.21

 OR: tỷ suất chênh, CI: khoảng tin cậy 95%.

 

Bảng 3: Phân tích đa biến các đặc điểm hình thái của DDĐTMN có ý nghĩa đến nguy cơ xuất huyết

Đặc điểm

OR

95% CI

Kich thước nhỏ <3cm

1.97

1.01-3.87

TM dẫn lưu duy nhất

2.38

1.18-4.78

TM dẫn lưu hẹp

2.89

1.35-6.18

ĐM nuôi duy nhất

1.89

0.76-4.70

Phình mạch

1.60

0.73-3.48

TM dẫn lưu sâu

1.60

0.63-4.07

Vị trí sâu của ổ dị dạng

1.93

0.82-4.52

 OR: tỷ suất chênh, CI: khoảng tin cậy 95%.

Cũng trong 221 DDĐTMN có 48 (21.74%) các trường hợp động kinh. Liên quan giữa các đặc điểm hình thái của DDĐTMN và động kinh  được thể hiện trong bảng 4.

Đặc điểm vị trí của ổ dị dạng, thấy có 46 trường hợp bị động kinh trong 167 DDĐTMN nằm nông (27.54%), tương tự có 2/54 trường hợp nằm sâu (3.7%). Có 34/104 ổ dị dạng kích thước lớn (>3cm) bị động kinh (32.69%).

DDĐTMN bị động kinh trong nhóm có nhiều hơn ba cuống mạch nuôi chiếm 25/78 trường hợp (32.05%), ít hơn ba cuống cuống chiếm 23/143 (16.08%). DDĐTMN bị động kinh trong nhóm có tĩnh mạch dẫn lưu giãn phình thấy 13/29 trường hợp (44.83%), trong nhóm không có giãn phình là 35/192 chiếm (18.23%).

Động kinh trong nhóm tĩnh mạch dẫn lưu nông chiếm 47/172 trường hợp (27/33%). Trong nhóm có nhiều tĩnh mạch dẫn lưu thấy 26/66 trường hợp (39.39%).

Phân tích đơn biến (bảng 5) phối hợp động kinh với các yếu tố vị trí nông, kích thước lớn hơn 3cm, nhiều hơn hai động mạch nuôi, tĩnh mạch dẫn lưu giãn phình, tĩnh mạch dẫn lưu nông, có từ hai tĩnh mạch dẫn lưu trở lên có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P<0.05.

Các yếu tố có ý nghĩa trong phân tích đơn biến được tiếp tục phân tích đa biến nhằm phân biệt có ý nghĩa hơn (bảng 6). Kết quả phân tích cuối cùng cho thấy còn lại có hai yếu tố có ý nghĩa thống kê: DDĐTMN có từ hai tĩnh mạch dẫn lưu trở lên và tĩnh mạch dẫn lưu giãn phình.

Bảng 4: Mô tả đặc điểm hình thái của DDĐTMN và biểu hiện động kinh.

Đặc điểm tổn thương

Số lượng (n)

Động kinh (n)

Tỉ lệ (%)

P

Vị trí

Nông

167

46

27.54

<0.001

Sâu

54

2

3.70

Kích thước

>3cm

104

34

32.69

<0.001

=<3cm

117

14

11.97

Số lượng ĐM nuôi

>3

78

25

32.05

0.006

=<3

143

23

16.08

Giãn phình TM dẫn lưu

29

13

44.83

0.001

Không

192

35

18.23

TM dẫn lưu nông

172

47

27.33

<0.001

Không

49

1

2.04

Số lượng TM dẫn lưu

Nhiều

66

26

39.39

<<0.001

Duy nhất

155

22

14.19

 

Bảng 5: Phân tích đơn biến các đặc điểm hình thái của DDĐTMN phối hợp với biểu hiện động kinh.

Đặc điểm

OR

95% CI

Vị trí nông của ổ dị dạng

9.88

2.31-42.2

Kích thước >3cm

3.57

1.78-7.14

ĐM nuôi nhiều >2

2.46

1.28-4.72

TM dẫn lưu giãn phình

3.64

1.60-8.26

TM dẫn lưu nông

18.49

2.42-134.48

TM dẫn lưu  >1

3.93

2.01-7.66

Lan tỏa

0.58

0.25-1.35

OR: tỷ suất chênh; CI: khoảng tin cậy 95%.

 

Bảng 6: Phân tích đa biến các đặc điểm hình thái của DDĐTMN có ý nghĩa đến biểu hiện động kinh.

Đặc điểm

OR

95% CI

TM dẫn lưu >1

2.63

1.24-6.58

TM dẫn lưu giãn phình

2.64

1.05-6.58

Vị trí nông của ổ dị dạng

3.78

0.79-18.07

Kich thước >3cm

1.45

0.57-3.67

ĐM nuôi nhiều >2

1.42

0.60-3.33

TM dẫn lưu nông

5.20

0.62-43.78

OR: tỷ suất chênh; CI: khoảng tin cậy 95%.

BÀN LUẬN

1. Liên quan giữa các đặc điểm cấu trúc mạch với biểu hiện xuất huyết.

Vị trí ổ dị dạng: 

Tỷ lệ vị trí của ổ dị dạng liên quan đến xuất huyết là rất khác nhau trong các nghiên cứu. Willinski và cs thấy rằng xuất huyết có khả năng xảy ra nhiều hơn với DDĐTMN ở vị trí sâu và vùng hố sau [16]. Stefani và cộng sự [13] nhận thấy DDĐTMN sâu thường biểu hiện xuất huyết lần đầu. Ngược lại, một số tác giả khác thấy xuất huyết thường ở những ổ dị dạng nằm nông vùng vỏ thái dương và chẩm [10]. Nghiên cứu của Marks và cs [7] cho thấy không có vị trí nổi trội liên quan đến biểu hiện xuất huyết, kết luận này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Phạm Hồng Đức [1] và cũng phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi.

Kích thước ổ dị dạng:

Kết quả phân tích đơn biến và đa biến của chúng tôi chỉ ra rằng mối liên quan giữa xuất huyết và ổ dị dạng có kích thước nhỏ hơn 3cm là có ý nghĩa thông kê (OR: 1,97; 95%CI: 1,01-3,87), ngược lại với kích thước lớn hơn. Nghiên cứu của Phạm Hồng Đức [1] và các nghiên cứu khác [4],[8] cũng cho các kết quả tương tự. Điều này có thể được giải thích là do DDĐTMN kích thước lớn thường nằm ở vùng vỏ nông, là vị trí thường có biểu hiện động kinh và các dầu hiệu thần kinh khu trú . Tuy nhiên, cũng có thể giải thích rằng DDĐTMN kích thước lớn hoặc nhỏ có cùng nguy cơ xuất huyết nhưng những tổn thường nhỏ có thể ít biểu hiện triệu chứng khác (như động kinh, đau đầu...), do đó chúng thường biểu hiện bằng triệu chứng xuất huyết hơn [11].

Tĩnh mạch dẫn lưu:

            Trong kết quả phân tích đa biến của chúng tôi cho thấy có mối tương quan có ý nghĩa giữa tĩnh mạch dẫn lưu duy nhất với xuất huyết . Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Phạm Hồng Đức và các nghiên cứu khác [4],[9].

            Hẹp tĩnh mạch là một yếu tố nguy cơ xuất huyết cũng được nói đến trong các nghiên cứu. Điều này có thể là do tăng áp lực động mạch [9] và kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi. Nguyên nhân hẹp tĩnh mạch có thể là do tăng sinh nội mạch do phản ứng với dòng chảy tốc độ cao hoặc áp lực cao trong tĩnh mạch, hẹp do chèn ép từ bên ngoài khi tĩnh mạch đi ngang qua nếp gấp của màng cứng hoặc xương và gập góc của tĩnh mạch giãn [11].    

2. Liên quan giữa các đặc điểm cấu trúc mạch với các biểu hiện động kinh.

            Động kinh thường là biểu hiện lâm sàng gặp nhiều thứ hai sau chảy máu nội sọ. Tỷ lệ bệnh nhân DDĐTMN có biểu hiện động kinh mà trên lâm sàng không có chảy máu não thay đổi từ 17 đến 40% [12]. Trong nghiên cứu này tỷ lệ chúng tôi gặp động kinh là 21,74%. Như vậy sô liệu của chúng tôi phù hợp với các tác giả trên. Tuy nhiên, tỷ lệ này không ảnh hưởng tới việc phân tích đơn biến và đa biến để tìm ra mối liên quan có ý nghĩa giữa các yếu tố cấu trúc mạch và động kinh. Kết quả của chúng tôi cho thấy có hai yếu tố cấu trúc mạch liên quan có ý nghĩa đến dấu hiệu động kinh đó là ổ dị dạng có từ hai tĩnh mạch dẫn lưu trở lên (OR: 2,63;  95%CI: 1,24-6,58) và tĩnh mạch dẫn lưu giãn phình (OR: 2,64;  95%CI: 1,05- 6,58). Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, tuy vậy kết quả thu được là rất khác nhau.

Francis Turjman và cs [5] nhận thấy rằng có một số yếu tố cấu trúc mạch liên quan có ý nghĩa đến biểu hiện động kinh, đó là: DDĐTMN nằm ở vùng vỏ; ổ dị dạng được nuôi bởi động mạch não giữa; động mạch nuôi nông; không có phình mạch đi kèm; phình-giãn tĩnh mạch dẫn lưu. Trong một nghiên cứu khác [6] chỉ ra rằng tĩnh mạch dẫn lưu nông liên quan có ý nghĩa với động kinh. Crawford [3], nhấn thấy rằng không có sự liên quan giữa vị trí giải phẫu của ổ dị dạng và biểu hiện động kinh. Còn Yeh và cs thì kết luận rằng ổ dị dạng ở thùy thái dương liên quan có ý nghĩa với biểu hiện động kinh [91]. Đối với dấu hiệu giãn tĩnh mạch dẫn lưu, theo [5] chỉ có ý nghĩa khi nghiên cứu cùng với các yếu tố khác nữa. Khi đánh giá riêng rẽ yếu tố này thì không tìm thấy sự liên quan có ý nghĩa với động kinh.

KẾT LUẬN

Kết quả thu được trong nghiên cứu này cho thấy một số yếu tố phối hợp với biểu hiện xuất huyết của DDĐTMN. Một ổ dị dạng kích thước nhỏ <3cm, tĩnh mạch dẫn lưu duy nhất và hẹp tĩnh mạch dẫn lưu là những đặc điểm có ý nghĩa trong phân tích đa biến. Đối với biểu hiện động kinh, kết quả sau phân tích đa biến có hai yếu tổ cấu trúc mạch liên quan có ý nghĩa đó là ổ dị dạng có từ hai tĩnh mạch dẫn lưu trở lên và ổ dị dạng có tĩnh mạch dẫn lưu giãn phình.

TÀI LIỆU THAM KHẢO                                                      

  1. Phạm Hồng Đức, Phạm Minh Thông, Lê Văn Thính (2010), “Các yếu tố cấu trúc mạch liên quan đến biểu hiện xuất huyết của dị dạng động tĩnh mạch não”, Tạp chí Y học thực hành (705) - số 2 năm 2010, tr. 52-55.  
  2. Cognard C, Spelle L, and Pierot L (2004), “Pial arteriovenous malformations in: Intracranial vascular malformations and aneurysm”, Springer, pp. 39-92. 
  3. Crawford PM, West CR, Chadwick DW and Shaw MD (1986), “Arteriovenous malformations of the brain: natural history in unoperated patients”, Journal of Neurology, Neurosurgery and Psychiatry, Vol 49, 1-10.   
  4. Dos Santos M.L.T, et al (2009), “Angioerchitecture and clinical presentation of brain arteriovenous malformations”, Arq Neuropsiquiatr, 67(2-A), pp. 316-321.  
  5. Francis Turjman et al (1995), “Epilepsy associated with cerebral arteriovenous malformations: A multivariate analysis of angioarchitectural characteristics”, AJNR Am J Neuroradiol, 16, pp. 345–350.   
  6. Lasjaunias P, et al (1986), “Neurological manifestations ofintracranial dural arteriovenous malformations”, J Neurosurg, 64, pp. 724–730. 
  7. Marks MP, et al (1990), “Hemorrhage in intracerebral arteriovenous malformations: angiographic determinants”, Radiology, 176, pp.807-813.  
  8. Mast H, Mohr JP, Osipov A, et al (1995) “Steal” is an unestablished mechanism for the clinical presentation of cerebral arteriovenous malformations”,  Stroke,  26, pp. 1215–1220. 
  9. Nataf F, Meder JF, Roux FX, et al (1997), “Angioarchitecture associated with haemorrhage in cerebral arteriovenous malformations: a prognostic statistical model”, Neuroradiology, 39, pp. 52-58. 
  10. Ondra SL, Troupp H, George ED, Schwab K (1990), “The natural histo­ry of symptomatic arteriovenous malformations of the brain: a 24-year follow-up assessment”, J Neurosurg,73, pp. 387-391. 
  11. Pierot L, Cognard C, Spell L (2004), “Malformations arterioveinouses cerebrales: evaluation du risque hemorrhagique et de sa morbidite”, J. Neuroradiol, 31, pp. 369-375. 
  12. Perret G, Nishioka H (1966), “Report on the cooperative study of intracranial aneurysms and subarachnoid hemorrhage, section VI: arteriovenous malformations: an analysis of 545 cases of craniocerebral arteriovenous malformations and fistulae reported to the cooperative study”,  J Neurosurg, 25, pp. 467–490.  
  13. Stephani MA, et al (2002), “Angioarchitectural factors present in brain arteriovenous malformations with hemorrhagic presentation”, Stroke, 33, pp. 920-924.  
  14. Thajeb P, Hsi MS (1987), “Cerebral arteriovenous malformation: report of 136 Chinese patients in Taiwan”, Angiology, 38, pp. 851-858. 
  15. Yeh H-S, Privitera MD (1991), “Secondary epileptogenesis in cerebral arteriovenous malformations”, Arch Neurol, 48, pp. 1122–1124. 
  16. Willingsky RA, et al (1988), “Malformations arterio-veineuses cérébrales”, J Neuroradiol, 15, pp. 225-237.