MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ U CƠ TRƠN TỬ CUNG...

Banner right

Banner right

shadow

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ U CƠ TRƠN TỬ CUNG...

05/01/2017 10:22 AM - - Bài giảng về ĐQCT

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ U CƠ TRƠN TỬ CUNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP NÚT ĐỘNG MẠCH TỬ CUNG

Nguyễn Xuân Hiền

Phạm Minh Thông

Abstract

Summury:  The factors  effect the result of treated uterine fibroid by uterine artery embolization.

Purpose: to find out of the realationship between ages; location, size, hypo and hypervascular tumor with the reduction of fibroma tumor at 6 months after treating by uterine artery embolization. 

Metheod: We analyzed  100 patients(mean ages 39,8 years) with symptomatic uterine fibroids undergoing uterine artery embolization by PVA 500-710µm at the Radiology Department in Bach mai hospital from 2005 to 2008. After treatment, follow up the symptoms by questionaire, the size and weight of fibroids by ultrasound at 6 monhts.

Results:. After 6 monhts of the therapy procedure, A submucosal and intramural leiomyoma were asscociated with a great volume reduction at 6 months than subserosal leiomyoma 33,5 to 44,7%(p<0,05). Uterine fibroma hypervascular is reduction than fibroma hypovascular 46%(p<0,05). The tumor hypoechogenic is decrease volume more 25,1% than tumor hyperechogenic(p<0,05). The size of leiomyoma is not a prognostic factor for the result of outcome uterine artery embolization for treatment uterine fibroma.

Conclusion: The volume reduction of uterine leiomyoma after uterine artery embolizaton is better in hypervascular, hypoechogenic tumor  and submucosal, intramural tumor.

 

Tóm tắt:

Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị u cơ trơn tử cung bằng phương pháp nút động mạch tử cung

Mục tiêu: tìm hiểu mối liên quan giữa tuổi; vị trí, kích thước, mức độ tăng sinh mạch trong u với mức độ giảm trọng lượng khối u sau 6 tháng nút động mạch tử cung.

Đối tượng và phương pháp: 100 bệnh nhân được nút động mạch tử cung bằng PVA 500-710micromét để điều trị u cơ trơn tử cung tại khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Bạch mai từ năm 2005-2008, độ tuổi trung bình là 38,9. Chúng tôi theo dõi kích thước, trọng lương khối u tại thời điểm 6 tháng sau nút mạch, phân tích sự liên quan của tuổi, vị trí, kích thước, cấu trúc âm, mức độ tăng sinh mạch đến mức độ giảm trọng lượng u trung bình(P u). Kết quả: Sau 6 tháng nút mạch các khối u nằm trong cơ và dưới niêm mạc giảm trọng lượng u nhiều hơn nhóm dưới thanh mạc từ 33,5 -44,7% với p<0,05. Khối u giảm âm cũng giảm trọng lượng nhanh hơn nhóm tăng âm là 25,1% với p<0,05. Nhóm u có tăng sinh mạch máu giảm trọng lượng nhanh hơn nhóm không tăng sinh là 46% với p<0,05. Mức độ giảm trọng lượng khối u cơ trơn tử cung sau 6 tháng nút mạch không liên quan đến tuổi của bệnh nhân và kích thước của khối u. Kết luận: Mức độ giảm thể tích khối u cơ trơn tử cung sau nút động mạch tử cung có liên quan đến cấu trúc khối u, mức độ tăng sinh mạch trong u, vị trí khối u.

I. Đặt vấn đề

U cơ trơn tử cung là khối u lành tính hay gặp nhất ở tiểu khung nữ giới, chiếm khoảng 25-30% phụ nữ trên 30 tuổi [10], Phẫu thuật và liệu pháp hormone trong điều trị các triệu chứng do u cơ trơn tử cung gây ra đã được biết đến từ lâu. Theo một số nghiên cứu thì tỷ lệ phụ nữ trên 60 tuổi phải cắt tử cung do u cơ trơn tử cung chiếm 1/3 [4].

Hiệu quả và sự an toàn của nút động mạch trong điều trị u cơ trơn tử cung đã được nhiều nghiên cứu đưa ra [1], [2], [5], [8], [9], nhưng vấn đề đánh giá hiệu quả lâu dài cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị u cơ trơn tử cung bằng phương pháp nút động mạch tử cung vẫn còn nhiều tranh cãi ở trên thế giới cũng như trong nước. Vì vậy với mong muốn tìm hiểu rõ về một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị u cơ trơn tử cung bằng phương pháp nút động mạch tử cung nên chúng tôi thực hiện đề tài “ Nghiên cứu một số yếu tổ ảnh hưởng đến kết quả điều trị u cơ trơn tử cung bằng phương pháp nút động mạch tử cung”. Với mục tiêu tìm hiểu mối liên quan giữa tuổi; vị trí, kích thước, mức độ tăng sinh mạch trong u với mức độ giảm trọng lượng khối u sau 6 tháng nút động mạch tử cung.

II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1. Đối tượng nghiên cứu: bao gồm 100 bệnh nhân được điều trị u cơ trơn tử cung bằng phương pháp nút động mạch tử cung tại khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Bạch mai từ năm 2005-2008.  

2. Phương pháp nghiên cứu

Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán có u cơ trơn tử cung bằng máy siêu âm Doppler màu Philips HD 11 và có dấu hiệu lâm sàng: rong kinh, đau bụng, nặng vùng tiểu khung, bệnh nhân không muốn phẫu thuật.

Bệnh nhân được giải thích kỹ về kỹ thuật nút động mạch tử cung, hiệu quả và các tai biến có thể xảy ra…. Bệnh nhân hoàn toàn tự nguyện thực hiện thủ thuật này.

Chúng tôi sử dụng máy chụp mạch số hóa xóa nền một bình diện Advantix của hãng GE có phần mềm dẫn đường(Roadmaping).

Các biến số nghiên cứu: Bệnh nhân sau khi nút mạch được theo dõi: dấu hiệu lâm sàng,  kích thước và trọng lượng của khối u sau 6 tháng bằng máy siêu âm màu tại khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Bạch mai. Trọng lượng khối u và tỷ lệ giảm trọng lượng khối u được tính như sau[6]:

+ Trọng lượng khối u:  Dài x Rộng x Cao x 0,52(gam hay cm3).

+ Tỷ lệ giảm trọng lượng u sau nút mạch: (Vtrước nút­­-Vsau nút): Vtrước nút x100%.

Tăng sinh mạch khối u trên siêu âm màu là những khối u có các cuống mạch vào khối hình liễu rủ hay có các điểm bắt màu trong khối u và có dòng chảy của động mạch trên Doppler xung.

Kỹ thuật nút mạch:

+ Chuẩn bị bệnh nhân: bệnh nhân được làm đầy đủ các xét nghiệm như: công thức máu, đông máu cơ bản, nhóm máu, chức năng gan thận….

+ Tiến hành kỹ thuật: Bệnh nhân được chụp mạch máu bằng phương pháp Seldinger từ động mạch đùi phải qua ống đặt động mạch 4-5F, ống thông động mạch 4-5F. Sau đó qua chương trình dẫn đường nhìn rõ động mạch tử cung từng bên và luồn dây dẫn vào lần lượt từng động mạch tử cung, sau đó chụp kiểm tra thấy đạt yêu cầu(thấy rõ khối u tăng sinh mạch và ống thông qua được các nhánh chức năng) thì bơm hạt nhựa PVA loại 500-710micromét, chụp kiểm tra thấy tắc hết khối u thì rút ống thông. Số liệu thu được xử lý trên phần mềm SPSS 13.0 và Statica 5.5A

III. Kết quả

  1. Trước nút mạch

1.1. Vị trí u

Nhận xét: trong số 120 u có 77 u nằm dưới niêm mạc chiếm 64% vì đây là nguyên nhân chính gây rong kinh.

 

1.2. Cấu trúc âm khối u

Nhận xét: khối u giảm và hỗn hợp âm chiếm 74,2%.

  1. Sau nút mạch 6 tháng

2.1. Trọng lượng u giảm theo nhóm tuổi

Bảng 2.1: mức độ giảm trọng lượng khối u theo tuổi

Tuổi

Số u

P u trước nút (g)

P u sau nút (g)

Tỷ lệ giảm P u (%)

 

<35(1)

28

43,5

8,9

79,5

p1,2=0,5

35-45(2)

72

52,7

13,8

73,8

p2,3=0,6

>45(3)

20

55,6

14,1

74,5

p1,3 =0,9

Nhận xét: Tỷ lệ khối u giảm trọng lượng trung bình sau 6 tháng giữa ba nhóm tuổi không thấy khác biệt.

2.2. Trọng lượng u giảm theo vị trí u

Bảng 2.2: mức độ giảm trọng lượng khối u theo vị trí khối u

Vị trí khối u

Số u

P u trước nút (g)

P u sau nút (g)

Tỷ lệ giảm P u (%)

 

Dưới niêm mạc(1)

77

46,6

8,6

81,5

p(1,2)=0,7

Trong thành(2)

35

62,7

18,6

70,3

p(2,3)=0,02

Dưới thanh mạc(3)

8

42,5

26,9

36,8

p(1,3)=0,005

Nhận xét: khối u dưới niêm mạc và trong cơ tử cung giảm trọng lượng u sau 6 tháng nút động mạch tử cung nhanh hơn nhóm u dưới thanh mạc từ 33,5%- 44,7% với p<0,05. Nhóm u dưới niêm mạc giảm nhanh hơn nhóm trong thành và dưới thanh mạc là 17,5% (p=0,04).

2.3. Trọng lượng u giảm theo cấu trúc âm của khối u

Bảng 2.3: mức độ giảm trọng lượng khối u theo cấu trúc âm khối u

Cấu trúc âm

Số lượng

P u trước nút(g)

P u sau nút(g)

Tỷ lệ giảm P u( %)

 

Giảm âm(1)

29

49,5

5,7

88,4

P(1,2)=0,029

Tăng âm(2)

31

49,8

18,3

63,3

P(2,3)=0,23

Hỗn hợp(3)

60

52,4

14,5

75,1

P(1,3)=0,16

Tổng

120

 

 

 

 

Nhận xét: khối u giảm âm giảm trọng lượng nhanh hơn u tăng âm 25,1% với P<0,05.

2.4. Trọng lượng u giảm theo kích thước u

Bảng 2.4: mức độ giảm trọng lượng theo kích thước khối u

Kích thước u (cm)

Số u

P u trước nút (g)

P u sau nút (g)

Tỷ lệ giảm P u (%)

≤ 5

70

33,5

6,5

80,5

> 5

50

75,5

24,4

67,6

Nhận xét: Giảm trọng lượng u ở nhóm có kích thước ≤ 5cm nhiều hơn ở nhóm có kích thước > 5cm là 22,9% với p= 0,1.

2.5. Trọng lượng u giảm theo mức độ tăng sinh mạch

Bảng 2.5: mức độ giảm trọng lượng u theo mức độ tăng sinh mạch của u

Tăng sinh mạch

Số khối u

TLTB u trước nút

TLTB u sau nút

Tỷ lệ giảm P u(%)

106

51,6

10,3

80

Không

14

46,7

30,8

34

Nhận xét: nhóm u có tăng sinh mạch giảm trọng lượng sau 6 tháng nút mạch hơn nhóm không tăng sinh mạch là 46% với P=0,003.

IV. Bàn luận

Trong số 100 BN chúng tôi thực hiện kỹ thuật nút động mạch tử cung để điều trị UXTC thì có tổng số 120 u, u có kích thước trung bình trước nút mạch là là 51gam (nhỏ nhất 2 gam và lớn nhất là 178 gam), độ tuổi trung bình là 38,9 trong đó tuổi thấp nhất là 18 và cao nhất 51 và độ tuổi hay gặp nhất là 35-45( chiếm 72%). Theo dõi sau 6 tháng nút mạch chúng tôi thấy trọng lượng trung bình khối u là 12,7 gam (nhỏ nhất là 0 gam và to nhất là 83gam), trong đó có 03 bệnh nhân có khối u nằm ở dưới niêm mạc, các u này thoát ra ngoài qua đường âm đạo sau nút mạch.

     Trong nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy rằng  mức độ giảm trọng lượng của khối u

cơ trơn tử cung sau nút mạch trong các nhóm tuổi là không có sự khác biệt. Theo James B. Spies nghiên cứu trên 200 bệnh nhân nút động mạch tử cung để điều trị u cơ trơn tử cung thì cũng không thấy có sự liên quan giữa tuổi của bệnh nhân với kết quả điều trị  [3].

     Trong 120 khối u xơ chúng tôi nghiên cứu thấy rằng các khối u có tăng sinh mạch máu trên siêu âm Doppler  so với những khối u không tăng sinh mạch thì mức độ giảm trọng lượng khối u sau 6 tháng của nhóm tăng sinh mạch so với nhóm không tăng sinh mạch là có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Theo Seiji thì nhóm có tăng sinh mạch giảm trọng lượng khối u nhiều hơn nhóm không tăng sinh mạch với p<0,05 [7], còn theo Jha thì nhóm có tăng sinh mạch giảm trọng lượng u nhiều hơn nhóm không tăng sinh mạch là 35% với p<0,005[6]. Điều này có nghĩa rằng những khối u giàu mạch sẽ có kết quả điều trị tốt hơn những khối u không tăng sinh mạch vì khối u tăng sinh mạch thì thường kèm theo nhiều tế bào cơ hơn là tế bào xơ nên sau khi nút mạch chúng sẽ tiêu nhanh hơn các tế bào xơ.

     Vị trí khối u cũng ảnh hưởng tới kết quả điều trị u cơ trơn tử cung, theo bảng 2.2 những khối u nằm trong cơ hay dưới niêm mạc giảm trọng lượng hơn những khối u nằm dưới thanh mạc và trong thành tử cung 17,5% với p<0,05. Theo một số nghiên cứu thì tiên lượng của các khối u trong cơ và dưới niêm mạc tốt hơn khối u dưới thanh mạc khi điều trị bằng phương pháp nút động mạch tử cung. Điều này được lý giải là một số khối u dưới niêm mạc có thể thoát ra ngoài sau khi nút mạch. Theo nghiên cứu năm 2002 của James B. Spies và cộng sự trên 200 bệnh nhân cũng thấy rằng u dưới niêm mạc giảm trọng lượng u nhanh hơn nhóm dưới thanh mạc và trong thành tử cung là 30-40% (p=0,03) tại thời điểm 3 tháng sau nút mạch. Trong 120 khối u/100 bệnh nhân chúng tôi có gặp 3 trường hợp u thoát ra ngoài qua đường tự nhiên, trong đó có 1 trường hợp phải nhờ bác sỹ phụ khoa lấy khối u ra ngoài qua đường âm đạo do nó quá to (đường kính 8cm). Do vậy đối với những khối u dưới niêm mạc thì nên chon loại nhỏ có kích thước dưới 5cm cho an toàn nếu u có rụng và thoát ra ngoài theo đường tự nhiên.

     Theo bảng 2.3 thì ta thấy cấu trúc âm của khối u trước nút mạch cũng có giá trị tiên lượng kết quả điều trị. Trong nghiên cứu này nhóm u giảm âm giảm trọng lượng trung bình 88,4 % sau 6 tháng so với 63,3% của nhóm tăng âm với p=0,02. Do trong khối u giảm âm sẽ chứa nhiều tế bào cơ hơn tổ chức xơ nên khi tắc nguồn mạch nuôi dưỡng khối u này sẽ hoại tử và tiêu nhanh hớn khối u tăng âm có chứa nhiều tế bào xơ và tổ chức liên kết.

     Kích thước của khối u không ảnh hưởng đến kết quả của điều trị bệnh nhân bị u cơ trơn tử cung bằng phương pháp nút động mạch tử cung, trong nghiên cứu của chúng tôi sự khác biệt cuả hai nhóm kích thước u >5cm và u ≤5cm sau nút mạch 6 tháng không có ý nghĩa thống kê(p=0,1), điều này phù hợp với nghiên cứu của Seiji Isonishi và cộng sự[7] nghiên cứu trên 43 bệnh nhân được nút động mạch tử cung để điều trị u cơ trơn tử cung thấy sự thay đổi kích thước khối u sau nút mạch của hai nhóm trên 6,5 cm và dưới 6,5cm không có ý nghĩa thống kê(p=0.1)

V. Kết luận

-Tỷ lệ u cơ trơn tử cung hay gặp lứa tuổi 35-45 chiếm 72%, có thể gặp ở người chưa lập gia đình. Yếu tố tuổi của bệnh nhân không liên quan đến kết quả điều trị u cơ trơn tử cung bằng phương pháp nút động mạch tử cung.

-U dưới niêm mạc và trong cơ tử cung giảm trọng lượng sau nút mạch 6 tháng nhiều hơn u dưới thanh mạc từ 33,2-44,7% với p<0,05.

-U có tăng sinh mạch máu có tiên lượng tốt hơn u không tăng sinh mạch với p=0,003.

-Cấu trúc âm của u cơ trơn tử cung có ảnh hưởng đến kết quả nút mạch tử cung, u giảm âm giảm trọng lượng nhanh hơn u tăng âm 25,1% với p = 0,02.

-Kích thước khối u dưới 10cm không có liên quan đến kết quả điều trị u cơ trơn tử cung bằng phương pháp nút động mạch tử cung.

Tài liệu tham khảo

1.         Goodwin SC, et al. (1999), Uterine artery embolization for the treatment of uterine leiomyomata middel result. J Vasc Interv Radiol. 10: p. 1159-65.

2.         Goodwin SC, et al. (1997), Preliminary experience with uterine artery embolization for uterine fibroids. J Vasc Interv Radiol. 8: p. 517-26.

3.         James B. Spies, et al. (2002), Leiomyomata Treated  with Uterine Artery Embolization: Factors Associated with Successful Symptom and Imaging Outcome. Radiology. 222(1): p. 45-52.

4.         Pokras R and VG., Hufnagel (1988), Hysterectomy in the United States, 1965-84. American Journal Public Health. 78: p. 852-53.

5.         Ravina JH, et al. (1995), Arterial embolization to treat uterine myomata. Lancet. 346(671-2).

6.         Reena C.Jha, et al. (2000), Symptomatic Fibroleiomyomata: MR Imaging of the Uterus before anh after Uterine Arterial Embolization. Radiology. 217: p. 228-235.

7.         Seiji Isonishi, et al. (March 2008), Analysis of prognostic factors for patients with leiomyoma treated with uterine arterial embolization. American Journal of Obstretics & Gynecology. 198: p. 270e1-270e6

8.         Spies JB, et al. (2001), Initial experience with use of tris-acryl gelatin microspheres for uterine artery embolization for leiomyomata. J Vasc Interv Radiol. 12: p. 1059-63.

9.         Worthington-Kirschn RL, Popky GL, and Hutchins FL, Jr. (1998), Uterine arterial embolization for the management of leiomyomas: quality-of-life assessment and clinical response. Radiology. 208: p. 625-9.

10.       VerKauf BC (1993), Changing trends in treatment of leiomyoma uteri. Cur Opin Obstet Gynecol. 5: p. 301-310.